Có những vùng đất được nhớ bởi cảnh sắc. Có những vùng đất được nhớ bởi lịch sử. Định Hóa có cả hai, nhưng dường như vẫn còn một điều sâu hơn thế. Núi rừng đã tạo cho nơi này một thế đất đặc biệt; nhiều thế hệ cư dân đã tạo nên một thế người bền chặt. Để rồi khi lịch sử cần một nơi đủ kín để che chở, đủ rộng để kết nối và đủ lòng dân để tin cậy, Định Hóa trở thành trung tâm của “Thủ đô gió ngàn”. Hơn bảy thập niên đã qua, những tài sản từng làm nên sức mạnh của ATK – rừng, nước, văn hóa, ký ức và con người – vẫn là vốn quý để miền đất ấy bước tiếp.
ĐI VÀO MIỀN XANH
Con đường lên Định Hóa hôm nay không còn là những lối mòn xuyên rừng của một thời kháng chiến. Đường đã rộng hơn, những bản làng đã gần nhau hơn. Nhưng càng đi về phía bắc, phố xá càng lùi lại phía sau, núi bắt đầu dâng lên trước mặt, màu xanh nối màu xanh, khi là một sườn rừng, lúc là ruộng lúa nằm giữa những chân đồi, lúc lại mở ra thành một khoảng nước mênh mang soi bóng núi.

Định Hóa hiện ra không ồn ào.
Ở Khuôn Tát, nước từ đại ngàn đổ qua bảy tầng đá rồi len vào rừng. Ở Bản Quyên, cọn nước vẫn quay bên ruộng, phía sau là những mái nhà nép dưới chân núi. Xa hơn, hồ Bảo Linh mở ra một khoảng thủy mặc dịu dàng giữa miền sơn cước. Trong những bản Tày, Dao, Nùng, Sán Chay…, tiếng đàn tính, câu Then, điệu Lượn, lời Ví, Pả dung vẫn còn những người nhớ, người hát, người truyền lại.
Nhưng muốn hiểu Định Hóa, có lẽ phải đi lên Đèo De.
Trên cao, giữa màu xanh núi Hồng là Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công trình được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội xây tặng Thái Nguyên, khánh thành ngày 19 tháng 5 năm 2005. Từ chân lên Nhà tưởng niệm là những bậc đá đi giữa rừng cây. Trong bức ảnh ngày khánh thành, dòng người nối dài lên đèo như một dòng chảy. Nhiều năm sau, nhìn từ trên cao, công trình đã gần như hòa vào màu xanh chung quanh.
Ngay dưới chân đèo là Tỉn Keo.
“Tỉn Keo” trong tiếng Tày có nghĩa là chân đèo. Một cái tên giản dị đến mức nếu không có người kể, khách qua đường khó hình dung rằng ngày 6 tháng 12 năm 1953, chính tại một quả đồi giữa miền rừng này, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua phương án tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Một quyết định đi vào lịch sử thế giới đã được đưa ra từ một căn lán giữa rừng.
Vì sao lại là nơi này?
Muốn trả lời câu hỏi ấy, phải đi ngược xa hơn năm 1953. Xa hơn cả năm 1947, khi Bác Hồ về ATK.
Phải bắt đầu từ đất. Và từ người.
ĐẤT ĐÃ CÓ, NGƯỜI ĐÃ Ở
Định Hóa nằm ở một vị trí đặc biệt của vùng Việt Bắc. Từ đây có thể sang Tuyên Quang, ngược lên Bắc Kạn – Cao Bằng, xuôi về trung tâm Thái Nguyên hoặc theo những ngả đường khác về vùng trung du và Hà Nội. Núi rừng bao quanh, bên trong lại có những thung lũng, ruộng nước, khe suối và các khoảng đất đủ cho cư dân sinh sống. Địa thế ấy tạo cho Định Hóa một không gian vừa kín đáo để bảo toàn lực lượng, vừa có nhiều hướng kết nối với căn cứ Việt Bắc, trung du và đồng bằng.
Nhưng một vùng đất không chỉ được tạo thành bởi địa hình.
Trước khi trở thành ATK, nơi đây đã là quê hương của nhiều thế hệ cư dân. Người Tày dựng những nếp nhà sàn tựa vào sườn đồi, trước mặt là ruộng nước, cạnh bản có suối; quanh nhà là cọ, tre, mai, hóp và những vườn cây. Cư dân trong bản làm ruộng, lên nương, chăn nuôi, đánh bắt, vào rừng lấy sản vật, dùng sức nước để giã gạo. Bản làng không chỉ là nơi ở mà còn là một cộng đồng cùng chia sẻ nguồn nước, ruộng đồng, lễ hội và những quy ước đã thành nếp qua nhiều đời.
Cùng với người Tày là người Nùng, Dao, Sán Chay, Kinh… Những cộng đồng ấy dần bồi đắp nên một miền văn hóa nhiều thanh sắc.
Tên gọi và địa giới có thể đổi qua các thời kỳ. Theo Lịch sử biên niên huyện Định Hóa (1438-2010), từ năm 1438, Định Hóa đã là một châu thuộc phủ Phú Bình. Nhưng thứ bền hơn những đường ranh hành chính chính là cách con người bám lấy đất, dựa vào rừng, dựa vào nhau mà sống.

Có lẽ từ rất lâu trước khi lịch sử giao cho Định Hóa một sứ mệnh đặc biệt, vùng đất này đã âm thầm chuẩn bị cho mình hai thứ: một thế đất và một thế người.
Rồi lịch sử gõ cửa đại ngàn.
TỪ CHỢ CHU, MỘT VÙNG ĐẤT CHUYỂN MÌNH
Trong một bức ảnh cũ còn lưu lại, đồn Chợ Chu thời Pháp hiện lên khá bề thế giữa vùng sơn cước. Trên tấm bưu ảnh là hàng chữ Pháp giới thiệu mặt trước đồn Chợ Chu. Những bức tường, hàng rào, lính canh và nhà tù phía sau chúng từng là biểu tượng của một bộ máy cai trị muốn kiểm soát miền núi này.

Nhà tù Chợ Chu ban đầu giam thường phạm, về sau trở thành nơi giam giữ những người yêu nước và chiến sĩ cách mạng. Tù nhân từng bị đưa về đây sau Khởi nghĩa Thái Nguyên, Khởi nghĩa Yên Bái, Khởi nghĩa Bắc Sơn. Đến năm 1943, nhiều tù chính trị từ Sơn La tiếp tục bị chuyển về Chợ Chu.
Nhưng một nghịch lý đã xảy ra.
Nhà tù được dựng lên để cô lập những chiến sỹ cách mạng, nhưng rồi chính nơi ấy lại dần trở thành một địa điểm học tập, tổ chức và truyền bá tư tưởng cách mạng. Sau song sắt, các chiến sĩ bị giam giữ học lý luận, tổ chức văn nghệ, viết báo, tìm cách liên lạc với bên ngoài. Nhà tù của thực dân, theo một nghịch lý của lịch sử, dần trở thành một trường học cách mạng.
Rồi những hạt nhân cách mạng ấy tìm đường ra khỏi những bức tường của nhà tù.
Cuộc vượt ngục của 12 cán bộ cuối năm 1944 không chỉ là câu chuyện mười hai con người thoát khỏi nơi giam giữ. Những chiến sỹ cách mạng ra khỏi Chợ Chu tiếp tục xây dựng lực lượng, gây dựng cơ sở ở Định Hóa và vùng lân cận, chuẩn bị một địa bàn cách mạng rộng lớn hơn.
Và phía ngoài nhà tù, họ không đơn độc.
Những người dân biết rừng, biết suối, thuộc từng lối mòn trở thành người dẫn đường. Những mái nhà trong bản trở thành chỗ trú. Gạo, thuốc men và tin tức được chuyển đi. Từ tháng 3 năm 1944, cơ sở cách mạng ở Định Hóa được phục hồi nhanh chóng, các hội Cứu quốc ra đời ở nhiều nơi, tập hợp ngày càng đông các tầng lớp nhân dân.
Đến cuối năm ấy, ngọn lửa đã lan rộng. Các đội tự vệ vũ trang xuất hiện ở Bãi Hội, Bãi Lềnh, Khuôn Nhà; nhiều đội vũ trang được thành lập tại Bảo Cường, Phúc Chu, Kim Sơn, Định Biên Thượng, Định Biên Trung, Định Biên Hạ. Ở Khuôn Nhà, lò rèn đỏ lửa làm giáo mác, dao găm cho tự vệ. Những hạt lửa từ Chợ Chu đã gặp một vùng đất sẵn lòng đón lấy chúng.
Định Hóa đang chuyển mình từ một nơi có cơ sở cách mạng thành một căn cứ cách mạng.
Khi thời cơ Tổng khởi nghĩa đến, sức dân ấy hiện ra bằng những đóng góp rất cụ thể. Tháng Tám năm 1945, trong những ngày Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc và Đại hội Quốc dân được tổ chức tại Tân Trào, nhân dân các dân tộc Định Hóa đã đóng góp 10 tấn thóc, 100 con trâu bò, trên 100 con lợn cùng hàng trăm kilôgam lương thực, thực phẩm khác, cung cấp cho hội nghị và lực lượng vũ trang cách mạng.
Đó không chỉ là lương thực của một vùng quê nghèo dành dụm cho cách mạng. Đằng sau những tấn thóc, những con trâu, con lợn ấy là một điều quan trọng hơn: lòng dân đã đứng về phía cách mạng trước khi Định Hóa được lịch sử lựa chọn làm ATK.
Như vậy, trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về đây, Định Hóa đã không còn đơn thuần là một vùng núi kín đáo.
Ở đây đã có cơ sở.
Có những con đường bí mật.
Có những con người có thể tin cậy.
Và quan trọng nhất, có lòng dân.
RỪNG CHE BẢN, BẢN CHE CÁCH MẠNG
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ và quân đội rời Hà Nội lên Việt Bắc.
Tối 19 tháng 5 năm 1947, từ làng Xảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển chỗ ở và làm việc sang ATK Thái Nguyên. Ngày hôm sau, Người đến đồi Khau Tý, xóm Bản Quyên, thôn Điềm Mặc. Cùng đi với Bác có tám cán bộ vừa làm nhiệm vụ cảnh vệ, vừa liên lạc và cấp dưỡng.
Hành trang của vị Chủ tịch nước đi vào đại ngàn thật giản dị: chăn, màn, vài bộ quần áo, đôi dép cao su, chiếc máy chữ cùng ít tài liệu, sách báo đựng trong một chiếc túi nhỏ. Lán của Người được dựng trên đồi Khau Tý, giữa một vùng rừng núi kín đáo của Định Hóa.
Đó không phải một cuộc chuyển địa điểm thông thường. Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hóa dẫn lại chủ trương của Trung ương: các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ “đều tập trung đóng ở Định Hóa, tuy cũng có thời gian chuyển sang Sơn Dương hay Bắc Cạn nhưng với thời gian ngắn rồi lại trở về Định Hóa”, bởi “Định Hóa là ATK tuyệt mật nhằm đảm bảo an toàn và ổn định để các đồng chí lãnh đạo chủ chốt lúc bấy giờ làm việc ít phải di chuyển”.
Từ ngày 20 tháng 5 ấy, Khau Tý trở thành nơi ở và làm việc đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ATK Định Hóa. Người ở đây đến ngày 11 tháng 10 năm 1947 rồi chuyển sang xã Liên Minh, huyện Võ Nhai. Nhưng từ Khau Tý, một chương đặc biệt trong lịch sử Định Hóa đã thực sự mở ra: một miền rừng núi từng bước trở thành nơi đặt các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến.
Tại Khau Tý, giữa một trong những thời điểm gian nan nhất của cuộc kháng chiến, Bác hoàn thành Sửa đổi lối làm việc. Những quyết sách chống cuộc tiến công lên Việt Bắc của quân Pháp cũng được hình thành trong không gian ấy.
Nếu chỉ nhìn những mái lán tre nứa, khó có thể hình dung đây là nơi một chính quyền đang điều hành đất nước và một cuộc chiến tranh đang được chỉ huy.
“Thủ đô” ấy không có đại lộ.
Không có những dinh thự lớn.
Không có những bức tường thành.
Các cơ quan được chia thành từng bộ phận nhỏ, phân tán trong rừng và giữa các bản làng. Khi cần, họ lại di chuyển. Một mái nhà sàn có thể trở thành nơi làm việc. Một sườn đồi có thể đặt cơ quan. Một con đường mòn có thể là tuyến liên lạc của cả bộ máy kháng chiến.
Địa hình giúp họ ẩn mình.
Nhưng rừng không thể tự giữ bí mật.
Con người mới có thể.
Tư liệu về ATK kể rằng đồng bào sẵn sàng nhường nơi ở tốt cho cán bộ, bộ đội; thực hiện “ba không”: không nghe, không thấy, không biết; vượt núi, qua suối, vận chuyển lương thực, đạn dược. Trong điều kiện ấy, bí mật của căn cứ không chỉ nằm trong những quy định bảo vệ mà nằm trong sự im lặng tự giác của cả cộng đồng.
Một con số cho thấy điều đó rõ hơn mọi lời ngợi ca.
Lực lượng bảo vệ của Trung ương khi ấy chỉ có Đại đội Cảnh vệ 15 với 145 cán bộ, chiến sĩ. Trên một địa bàn ATK rộng lớn, bình quân mỗi chiến sĩ phải bảo vệ khoảng 4 km². Không một lực lượng cảnh vệ nào, dù tổ chức chặt chẽ đến đâu, có thể có mặt trên mọi con đường, bên mọi cánh rừng và trong từng bản làng để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến.
Bởi thế, phía sau vòng bảo vệ của những người lính còn có một vòng bảo vệ rộng lớn hơn, âm thầm hơn và bền chặt hơn: nhân dân.
Hàng vạn đồng bào và chiến sĩ dân quân, du kích các dân tộc Định Hóa đã tạo nên một bức thành không xây bằng đá. Người dân nhường nơi ở cho cán bộ, bộ đội; giữ bí mật bằng “ba không” – không nghe, không thấy, không biết; vượt núi, qua suối vận chuyển lương thực, đạn dược. Mỗi mái nhà, mỗi lối rừng, mỗi người dân biết giữ kín điều mình đã thấy đều trở thành một mắt xích của thế trận bảo vệ ATK.
Bởi vậy, khi Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hóa khẳng định “lực lượng bảo vệ quan trọng nhất, tin cậy nhất vẫn là nhân dân”, nhận định ấy đã nói lên một sự thật căn cốt làm nên sự an toàn của “Thủ đô kháng chiến”: giữa đại ngàn, Trung ương được che chở không chỉ bởi núi cao, rừng sâu, mà còn bởi một thành lũy vững bền hơn – lòng dân.
Rừng che bản, bản che cách mạng.
Và bởi vậy, Định Hóa trở thành nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng Tư lệnh và nhiều cơ quan của Nhà nước kháng chiến có thể ở lại, làm việc, tổ chức lực lượng và đưa ra những quyết định liên quan tới vận mệnh đất nước.
Trong những năm ấy, dấu chân của Bác đi qua Khau Tý, Khuôn Tát, Tỉn Keo và nhiều địa điểm khác. Ở Khuôn Tát còn cây đa, đoạn suối nơi Người cùng anh em bảo vệ sinh hoạt, tập luyện, câu cá.
Một trong những hình ảnh còn lại từ những năm ấy là bức ký họa của Phan Kế An. Không có lễ đài, không có nghi thức. Chỉ là gương mặt Bác được người họa sĩ ghi lại ở Khuôn Tát năm 1948.

Một nét bút mảnh giữa những năm tháng dữ dội.
Nhưng có lẽ chính những dấu vết ấy giúp ta hiểu ATK không chỉ là nơi những quyết sách lớn được đưa ra. Đó còn là nơi Bác Hồ cùng biết bao cán bộ, chiến sĩ đã sống và làm việc qua những năm tháng gian khó của cuộc kháng chiến. Đằng sau lịch sử được ghi bằng những hội nghị, sắc lệnh và chiến dịch là những ngày tháng rất đỗi đời thường giữa đại ngàn: những bữa cơm đạm bạc, những trang tài liệu đọc dưới ánh đèn, những bài báo được viết, những cuộc họp nối tiếp nhau, những bước chân xuyên rừng từ cơ quan này sang cơ quan khác. Ngoài kia, tiếng suối vẫn chảy giữa núi rừng; trong những căn lán, công việc của cuộc kháng chiến vẫn được ngày đêm bàn bạc, quyết định.
NHỮNG MÁI LÁ DỰNG NÊN MỘT ĐẤT NƯỚC
Có một điều rất dễ bị che khuất nếu chỉ nhìn Định Hóa như một căn cứ quân sự.
Trong những cánh rừng ấy, không chỉ có chiến tranh.
Một đất nước mới cũng đang được kiến tạo.
Ở xóm Roòng Khoa, Điềm Mặc, chiều 21 tháng 4 năm 1950, trong một hội trường tám mái giữa chiến khu, Hội Những người viết báo Việt Nam – tiền thân của Hội Nhà báo Việt Nam – ra đời.

Bức ảnh hội trường tám mái còn lại đến hôm nay gợi nhiều hơn một địa điểm lịch sử. Nó cho thấy một nghịch lý rất đẹp của thời kháng chiến: giữa một đất nước còn thiếu thốn đủ bề, báo chí vẫn được tổ chức, văn hóa vẫn được gây dựng, những thiết chế cho ngày mai vẫn từng bước thành hình.
Ba năm sau, câu chuyện ấy tiếp tục ở Đồi Cọ, Bản Bắc.
Ngày 15 tháng 3 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Doanh nghiệp Quốc doanh Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam. Tư liệu về những ngày đầu của điện ảnh cách mạng mô tả một “cơ ngơi” gồm 65 căn nhà lá nằm trên ba quả đồi, với các bộ phận in tráng, thu thanh, máy chiếu, máy phát điện hoạt động giữa rừng. Từ những căn nhà lá ấy, những thước phim về cuộc kháng chiến và Điện Biên Phủ sau này được tạo nên.
Ở nơi khác của Định Hóa là cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh. Ở Phụng Hiển có Tổng Bí thư Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng. Có nơi thành lập cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng. Báo Quân đội nhân dân ra số đầu tại Định Biên.
Nhìn lại những địa danh ấy, có thể thấy một điều:
Giữa đại ngàn Định Hóa, không chỉ có một chính quyền kháng chiến được bảo vệ.
Một quốc gia đang được kiến tạo.
Báo chí cần một tổ chức. Điện ảnh, nhiếp ảnh cần một nơi để bắt đầu. Quân đội cần một bộ máy chỉ huy. Đảng, Chính phủ cần những cơ quan có thể hoạt động ngay cả khi chiến tranh còn ở phía trước. Những thiết chế của một đất nước mới đã không chờ đến ngày hòa bình mới được dựng lên. Chúng được gây dựng ngay giữa chiến khu, dưới những mái lá, bên những con đường mòn và trong sự chở che của những bản làng.
Nhưng tất cả những gì được dựng lên giữa rừng ấy cuối cùng vẫn hướng tới một mục tiêu lớn nhất: đưa cuộc kháng chiến đến ngày thắng lợi.
Và rồi lịch sử lại trở về với Tỉn Keo.

Ngày 6 tháng 12 năm 1953, tại quả đồi dưới chân Đèo De, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã bước sang năm thứ bảy. Trên bàn không còn chỉ là câu chuyện giữ căn cứ hay chống một cuộc càn quét. Phía trước là một chiến cuộc có thể làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Tại Tỉn Keo, Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ một căn lán giữa rừng Định Hóa, hướng đi của cả một chiến dịch lớn được xác lập.
Ít lâu sau, tại Khuôn Tát, trước khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận, Bác Hồ giao nhiệm vụ cho người Tổng Tư lệnh. Từ những con đường của ATK, mệnh lệnh đi về phía Tây Bắc. Cùng với bộ đội là những đoàn dân công, những chuyến lương thực, những đôi vai gùi hàng vượt núi. Người Định Hóa, sau nhiều năm che chở cho cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, lại góp sức vào trận quyết chiến cuối cùng.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên Phủ toàn thắng.
Giữa Điện Biên và Định Hóa là hàng trăm kilômét núi rừng. Nhưng trong dòng chảy của lịch sử, hai địa danh ấy gần nhau hơn khoảng cách trên bản đồ. Một nơi là chiến trường kết thúc bằng lá cờ chiến thắng trên nóc hầm De Castries. Một nơi là hậu phương, là đại bản doanh, là nơi những phương án và quyết định quan trọng của chiến cuộc đã được bàn bạc giữa những mái lán trong rừng.
Từ Khau Tý năm 1947 đến Tỉn Keo cuối năm 1953, Định Hóa đã đi cùng gần trọn một chặng đường của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bảy năm trước, Bác Hồ đến đây theo một lối mòn giữa rừng.
Bảy năm sau, từ những cánh rừng ấy, một đất nước đi về phía chiến thắng.
Rồi tiếng súng lùi xa.
Các cơ quan Trung ương lần lượt rời chiến khu. Những căn lán hoàn thành sứ mệnh của mình. Những con đường từng in dấu chân giao liên, cán bộ, bộ đội và dân công dần trở lại với nhịp sống của bản làng.
Nhưng Định Hóa không khép lại cùng một thời kháng chiến.
Rừng vẫn ở đó.
Suối vẫn chảy.
Những cánh đồng dưới chân núi lại vào mùa. Trong những nếp nhà sàn, tiếng đàn tính vẫn được gảy lên; những câu Then, điệu Lượn vẫn tìm người hát; những con rối gỗ lại bước ra trong ngày hội. Lịch sử lùi vào ký ức, còn đời sống tiếp tục đi về phía trước.
Và lúc ấy, câu chuyện có thể trở lại nơi nó đã bắt đầu.
TRỞ LẠI ĐÈO DE
Rồi câu chuyện lại đưa ta trở về Đèo De.
Vẫn con đường ấy. Vẫn núi Hồng ở phía sau. Vẫn những lớp rừng nối nhau chạy về phía chân trời. Khuôn Tát vẫn đổ nước qua bảy tầng đá. Những thửa ruộng nằm yên dưới chân núi. Xa hơn là những mái nhà của bản làng nép vào màu xanh.
Nhưng sau một hành trình đi qua Định Hóa, màu xanh trước mắt dường như không còn giống màu xanh lúc ta mới đến.
Bởi bây giờ, trong những cánh rừng ấy có Khau Tý, nơi một căn lán nhỏ từng là chỗ ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày đầu Người về ATK. Có Khuôn Tát với mái nhà giữa rừng, cây đa, con suối và những năm tháng Người sống cùng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ. Có Tỉn Keo, nơi một ngày tháng Chạp năm 1953, từ giữa đại ngàn, một quyết định đã hướng cả cuộc kháng chiến về Điện Biên Phủ.
Trong màu xanh ấy còn có Chợ Chu, nơi nhà tù của chế độ thực dân từng trở thành trường học cách mạng; có Roòng Khoa với hội trường tám mái, nơi những người viết báo của một đất nước đang kháng chiến lập nên tổ chức của mình; có Đồi Cọ, nơi giữa những căn nhà lá, điện ảnh và nhiếp ảnh cách mạng Việt Nam bắt đầu những thước phim đầu tiên.
Và sau tất cả những địa danh đã đi vào lịch sử ấy là những con người mà không phải ai cũng còn được nhớ tên.
Những người đã nhường nhà cho cán bộ. Những người gùi gạo qua rừng, chặt tre, lấy nứa, lợp lá cọ dựng lán, đào hầm, sửa đường, nuôi bộ đội. Những người biết mà nói rằng không biết, thấy mà coi như không thấy, nghe mà giữ lại trong lòng. Trong một cuộc chiến mà bí mật của những mái lán giữa rừng có thể liên quan đến vận mệnh của cả đất nước, sự im lặng của một người dân bình thường cũng có thể là một phần của thành lũy.
Rừng che bản, bản che cách mạng.
Đi đến tận đây mới hiểu vì sao, giữa một Việt Bắc mênh mông, lịch sử lại chọn Định Hóa. Núi cao, rừng sâu cho vùng đất này một nơi kín đáo; những ngả đường sang Tuyên Quang, ngược Bắc Kạn – Cao Bằng, xuôi Thái Nguyên và nối về đồng bằng tạo nên một địa bàn có thể tiến, có thể lui, có thể liên lạc với nhiều hướng. Nhưng địa thế, dù hiểm yếu đến đâu, cũng chỉ tạo ra một nơi có thể ẩn mình. Để trở thành nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh có thể gửi gắm sự an toàn của cơ quan đầu não kháng chiến, còn cần một điều khác: lòng dân.
Núi rừng làm nên thế đất; bao thế hệ cư dân dựng bản bên suối, mở ruộng dưới chân đồi, nương tựa vào rừng và vào nhau mà sống đã bồi đắp nên thế người. Khi lịch sử cần một nơi đủ kín để che chở, đủ rộng để kết nối và, quan trọng hơn cả, đủ lòng dân để tin cậy, hai cái thế ấy gặp nhau. Định Hóa trở thành ATK không phải bởi một sự ngẫu nhiên, mà như kết quả của những gì thiên nhiên và con người đã âm thầm chuẩn bị cho vùng đất này từ rất lâu trước đó.
Rồi chiến tranh đi qua. Các cơ quan Trung ương lần lượt rời chiến khu; những căn lán hoàn thành sứ mệnh của mình; những con đường từng in dấu chân giao liên, dân công, cán bộ, bộ đội trở lại với nhịp sống của bản làng. Hôm nay, cũng những con đường ấy lại đưa những đoàn người tìm về Đèo De, Tỉn Keo, Khau Tý, Khuôn Tát – trở về những địa danh mà hơn bảy thập niên trước, vận mệnh của cuộc kháng chiến từng được gửi vào giữa đại ngàn.


Nhưng bản làng thì vẫn ở lại, và cùng với bản làng là một dòng chảy khác, lặng lẽ hơn lịch sử chiến tranh mà bền bỉ đi qua các thế hệ. Mỗi độ xuân về, tiếng trống Lồng Tồng lại gọi người xuống đồng, quả còn lại bay lên giữa trời xuân; tiếng đàn tính nâng câu Then qua những nếp nhà sàn, Lượn Cọi tìm đến nhau qua lời giao duyên, Pả dung của người Dao vẫn được cất lên giữa núi rừng. Những con rối gỗ Thẩm Rộc lại chuyển động trong bàn tay nghệ nhân; những nan tre mảnh dưới đôi tay người phụ nữ Tày dần khép thành chiếc nón. Ở Bản Quyên, những nếp nhà sàn vẫn có người ở, tiếng đàn tính, câu Then vẫn được gìn giữ trong sinh hoạt cộng đồng; một số gia đình đã mở cửa đón khách, để văn hóa bản địa không chỉ được bảo tồn mà từng bước trở thành một phần sinh kế của chính những người đang gìn giữ nó.


Trên những thửa ruộng, Bao thai lại đi hết một mùa gieo cấy để thành hạt gạo trong bữa cơm, thành sợi mỳ và thành món quà mang tên quê hương; trên những triền đồi, chè lại lên búp. Những điều ấy có vẻ nhỏ bé nếu đặt cạnh Điện Biên Phủ, cạnh những cuộc họp và quyết sách từng làm chuyển động lịch sử, nhưng chính những điều bình dị ấy mới tạo nên phần đời sống lâu bền của một vùng đất. Bởi quê hương không thể chỉ sống bằng ký ức về những năm tháng huy hoàng; ký ức chỉ thật sự có tương lai khi nó tiếp tục hiện diện trong cuộc sống của những con người hôm nay.


Một làn điệu chỉ còn khi vẫn có người cất tiếng hát và có người trẻ muốn học lấy câu hát ấy; một nghề chỉ còn khi bàn tay của thế hệ trước có bàn tay của thế hệ sau đưa ra đón nhận. Bản sắc của một bản làng cũng không thể được giữ bằng cách biến ngôi nhà, món ăn, tiếng nói hay lễ hội thành những đạo cụ dành riêng cho khách tham quan. Và một cánh rừng càng không thể xanh mãi chỉ bởi trong quá khứ nó từng che chở lịch sử.


Ngày trước rừng che người. Hôm nay đến lượt người giữ rừng.
Có lẽ đó là cuộc chuyển giao âm thầm nhưng sâu xa nhất mà lịch sử trao lại cho Định Hóa: giữ rừng để những con suối còn nước, giữ ruộng để Bao thai còn mùa, giữ bản để câu Then còn nơi cất lên, giữ những con rối để một đứa trẻ mai sau vẫn biết ông cha mình đã gửi vào những khuôn mặt gỗ ấy những câu chuyện gì. Và giữ Tỉn Keo, Khau Tý, Khuôn Tát, Chợ Chu, Roòng Khoa, Đồi Cọ không phải như những tọa độ bất động trên bản đồ di tích, mà như những phần ký ức vẫn còn khả năng kể chuyện, đánh thức niềm tự hào và trò chuyện với các thế hệ mai sau.
Nhưng giữ không có nghĩa là đặt mọi thứ vào quá khứ. Một mái nhà sàn được gìn giữ phải còn hơi ấm của đời sống; một lễ hội được phục hồi phải còn những người mong ngóng ngày mở hội; một sản vật mang tên quê hương phải giúp người làm ra nó sống tốt hơn trên chính mảnh đất của mình. Và một vùng đất chỉ thực sự có tương lai khi những người trẻ có thể đi xa để học hỏi, trưởng thành, nhưng vẫn nhìn thấy ở quê nhà một lý do đủ lớn để trở về.
Khi ấy, quá khứ không nằm lại phía sau hiện tại như một chương lịch sử đã khép. Nó vẫn đi cùng hôm nay, lặng lẽ góp phần tạo nên hình hài của ngày mai.

Trở lại Đèo De, màu xanh vẫn trải xuống từng lớp như lúc bắt đầu câu chuyện. Nhưng sau hành trình qua gần sáu thế kỷ được ghi trong sử và qua những năm tháng Định Hóa mang trên mình trọng trách của “Thủ đô kháng chiến”, màu xanh ấy không còn chỉ là màu của cây rừng. Trong đó có dấu chân những người đã đi qua, có những mái lán từng giữ những bí mật hệ trọng của đất nước, có mồ hôi của người dân gùi gạo, mở đường, có Tỉn Keo trước Điện Biên Phủ, có hội trường tám mái ở Roòng Khoa, có những căn nhà lá của những người làm điện ảnh ở Đồi Cọ. Và sâu hơn nữa, trong màu xanh ấy còn có tiếng đàn tính từ một nếp nhà sàn, tiếng nước Khuôn Tát giữa rừng, vòng quay chậm rãi của cọn nước Bản Quyên, những mùa lúa nối nhau qua thung lũng và những con người hôm nay đang sống trên chính mảnh đất mà cha ông họ từng lấy bản làng của mình để che chở cho cách mạng.
Có lẽ bởi thế, Định Hóa là một viên ngọc xanh không chỉ vì màu của đại ngàn Việt Bắc. Ngọc phải đi qua thời gian mới thành hình; Định Hóa cũng đã được bồi đắp như thế, bằng trầm tích của đất và người, của văn hóa và lịch sử, bằng một thời cả đất nước từng gửi vào nơi đây những điều hệ trọng, và bằng cả những mùa lúa mới vẫn phải gieo, những cánh rừng vẫn phải giữ, những câu hát cũ vẫn cần người trẻ cất lên, những con đường mới vẫn phải mở về phía trước.
Điều đáng quý nhất vì thế không phải là quá khứ của Định Hóa còn được giữ nguyên như một vật quý của ngày xưa, mà là quá khứ ấy vẫn có thể bước ra khỏi những tấm bia, những mái lán, những trang sử để sống trong hiện tại, nuôi dưỡng niềm tự hào, tạo nên sinh kế, gìn giữ căn cốt và trao cho những thế hệ sau một điểm tựa để đi tiếp.
Trên Đèo De, gió vẫn đi qua núi Hồng. Dưới kia, rừng vẫn nối rừng, bản làng vẫn nép vào chân núi, Khuôn Tát vẫn đưa nước từ đại ngàn xuống những tầng đá, và đâu đó trong một nếp nhà, một câu Then có thể lại vừa được cất lên.
Câu chuyện Định Hóa vì thế chưa khép lại.
Viên ngọc ấy không nằm trong hộp kính. Nó đang sống.
VỀ NGUỒN TƯ LIỆU
Bài viết được hình thành từ quá trình sưu tầm, đọc, đối chiếu và chọn lọc nhiều nguồn tư liệu về lịch sử, văn hóa, con người và vùng đất Định Hóa. Với những sự kiện, niên đại, địa danh và nhân vật lịch sử, người viết ưu tiên sử dụng các công trình đã được địa phương tổ chức biên soạn, thẩm định và xuất bản; những chi tiết quan trọng được đối chiếu giữa các nguồn trước khi đưa vào bài.
Nguồn sử liệu nền tảng là Lịch sử biên niên huyện Định Hóa (1438-2010), do Ban Thường vụ Huyện ủy Định Hóa tổ chức biên soạn, và Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hóa (1945-2016). Hai công trình cung cấp hệ thống tư liệu quan trọng về quá trình hình thành vùng đất, phong trào cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám, Nhà tù Chợ Chu, sự xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, quá trình Định Hóa trở thành trung tâm ATK Trung ương, hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan đầu não kháng chiến, cũng như những đóng góp đặc biệt của nhân dân các dân tộc Định Hóa.
Một nguồn tư liệu quan trọng khác là Định Hóa – Viên ngọc xanh của Thái Nguyên, do Vũ Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Đức Lực và Vũ Ngọc Pi chủ biên, NXB Đại học Thái Nguyên. Công trình cung cấp nhiều tư liệu về lịch sử ATK, hệ thống di tích, cảnh quan, đời sống, văn hóa các dân tộc, lễ hội, nghề truyền thống, ẩm thực và sản vật địa phương; đồng thời lưu giữ một kho hình ảnh có giá trị về Định Hóa xưa và nay.
Phần viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và ATK được tham khảo, đối chiếu thêm từ Bảo tồn, phát huy giá trị di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Việt Bắc – Thái Nguyên, tài liệu Nhà tưởng niệm Bác Hồ – Đèo De, ATK Định Hóa, Thái Nguyên của Đồng Khắc Thọ cùng các tài liệu chuyên khảo có liên quan. Đối với đời sống văn hóa, bài viết còn sử dụng Lễ hội Lồng Tồng ATK Định Hóa của Hội Văn học Nghệ thuật huyện Định Hóa và các nguồn tư liệu địa phương về Then, Lượn Cọi, Pả dung, rối cạn, nghề thủ công, ẩm thực và sinh hoạt cộng đồng.
Hệ thống hình ảnh sử dụng trong bài gồm ảnh tư liệu lịch sử; ký họa Chủ tịch Hồ Chí Minh của họa sĩ Phan Kế An tại Khuôn Tát năm 1948; cùng những hình ảnh đương đại về thiên nhiên, bản làng, lễ hội, nghề truyền thống và cuộc sống của đồng bào các dân tộc Định Hóa. Trong đó, các tác phẩm nhiếp ảnh về Định Hóa hôm nay là của Nghệ sĩ Bùi Khắc Thiện, được sử dụng với sự đồng ý của tác giả.
Bài viết này không nhằm thay thế một công trình lịch sử hay địa chí về Định Hóa. Từ những tư liệu đã được kiểm chứng, người viết chỉ mong nối những địa danh, sự kiện, con người và những lớp văn hóa tưởng như nằm ở những trang khác nhau thành một câu chuyện liền mạch về vùng đất: từ thế đất của đại ngàn, thế người được bồi đắp qua nhiều thế hệ, đến một Định Hóa được lịch sử lựa chọn làm ATK và một Định Hóa hôm nay đang gìn giữ những gì quá khứ trao lại để bước tiếp.
Bởi lịch sử không chỉ được giữ trong những trang sách, tấm bia hay mái lán đã trở thành di tích. Lịch sử còn được giữ trong ký ức của cộng đồng, trong tiếng Then, điệu Lượn, trong những bàn tay vẫn tiếp tục một nghề cũ, trong cánh rừng, thửa ruộng, dòng suối và trong cách mỗi thế hệ kể lại câu chuyện quê hương cho thế hệ sau.
Bài viết này cũng là một cách kể lại câu chuyện ấy – để những gì thuộc về Định Hóa không chỉ được lưu giữ, mà còn được tiếp tục trao truyền.


