Một thiên hùng ca về những người Cơ Điện đã đi qua chiến tranh, gian khó và cuộc đời – để cuối cùng vẫn trở về với nhau
Có những thế hệ được nhớ bằng những thành tựu họ để lại. Có những thế hệ được nhớ vì đã đi qua một biến cố lớn của đất nước. Và có những thế hệ, càng lần theo những câu chuyện nhỏ của họ, càng nhận ra rằng điều đáng kể nhất không nằm ở một chiến công, một chức danh hay một bảng vàng nào cả, mà nằm trong cách những con người ấy đã sống với nhau suốt một đời.
K9 Trường Đại học Cơ Điện là một thế hệ như thế.
Trong những tư liệu còn lại về K9 có chiến tranh và hòa bình, có người lính và người kỹ sư, có những người sau này trở thành nhà khoa học, nhà quản lý, người làm kinh tế, người viết văn; có người đi xa đến tận bên kia đại dương, cũng có những người sống một đời rất bình dị. Nhưng K9 còn có rau cải, sắn luộc, tem lương thực, những chiếc áo mặc chung, một quả mít mùa thi, một chiếc ăng gô đáy lồi, mười hai lọ penicillin, những chuyến tàu không đủ tiền mua vé, những đêm rét phải nằm sát vào nhau cho ấm, những lần thi lại, những mối tình dở dang, những cái tên và biệt danh mà năm mươi năm sau bạn bè vẫn gọi như chưa từng cách nhau nửa thế kỷ. Cuốn Ký ức năm mươi mùa thu chỉ là một phần trong kho ký ức ấy; bên ngoài nó còn có tập san Về với nhau, những bài viết truyền tay, những trang blog Cơ Điện, những bài hát, phát biểu hội khóa, chứng ngôn của thầy cô và bạn bè các khóa khác. Tất cả hợp lại thành một bức chân dung lớn hơn rất nhiều một cuốn sách: chân dung của một thế hệ.
Trần Thanh Tuân K9MB từng gọi thế hệ mình bằng một cái tên đầy khí phách: “K9 oai hùng.” Trong lời tự sự đi cùng bài hát ấy, anh viết K9 ngày xưa giữa gian khó là những học trò chăm chỉ, tài năng mà cũng “quậy phá tưng bừng”; K9 ngày nay có những người làm khoa học, kinh tế, quản lý, nhưng điều xuyên từ ngày ấy đến bây giờ vẫn là Tình và Nghĩa.
“Oai hùng”, vì thế, nếu chỉ hiểu là đã đi qua chiến tranh thì vẫn còn hẹp.
Cái oai hùng của K9 còn nằm trong cách một thế hệ bước qua thiếu thốn mà không để cái nghèo làm mình nhỏ lại; bước qua chiến tranh mà vẫn giữ phần người; bước vào cuộc đời mà biết thích nghi; có người đi rất cao mà khi gặp bạn cũ vẫn trở về với tiếng “mày – tao” năm hai mươi tuổi; và sau nửa thế kỷ, khi rất nhiều thứ đã đổi khác, vẫn biết con đường nào dẫn mình về với nơi đã làm nên mình.

1. Một thế hệ đứng đúng đường ranh của lịch sử
K9 nhập trường năm 1973. Nhưng nếu chỉ ghi vào niên biểu rằng đây là khóa nhập học năm 1973, ra trường năm 1978, ta sẽ không hiểu được K9. Bởi ngồi trong những lớp học của khóa ấy không chỉ có những chàng trai vừa rời ghế phổ thông. Chiến tranh đã tạo ra một cuộc hội tụ rất đặc biệt: một số sinh viên các khóa trước từng gác bút nghiên lên đường nhập ngũ, đi qua chiến trường rồi trở về học tiếp cùng K9. Trong cách cộng đồng Cơ Điện vẫn nhìn nhận, Nguyễn Trọng Luân K5, Nguyễn Đình Chiến K5, Nguyễn Cát Tường K7… sau khi trở về hoàn thành đại học cùng K9 đã trở thành một phần không thể tách khỏi ký ức K9.
Bởi thế, trong cùng một lớp học có những người mới bước qua tuổi mười tám và những người đã bước qua sống chết.
Những người lính trở về không chỉ mang theo chiếc ba lô, cơn sốt rét hay những vết thương. Họ mang một nếp sống khác vào giảng đường. Ký ức K9 kể lại những lớp học được chấn chỉnh từ thể dục sáng, giờ giấc, tác phong cho tới kỷ luật thi cử. Có người từng là người chỉ huy ngoài chiến trường, trở về lại ngồi bên những bạn trẻ hơn; có người sau nhiều năm xa sách vở phải bắt đầu học lại gần như từ đầu. Những cựu binh ấy không phải lúc nào cũng học giỏi ngay. Có người thi lại. Có người vật lộn với những môn đã quên. Nhưng chính điều ấy làm câu chuyện của họ thật hơn: người lính trở về không được miễn phần khó của hòa bình.
Chiến tranh, trong những trang K9, cũng không hiện ra như một bức phù điêu chỉ có chiến thắng. Nguyễn Trọng Luân nhớ những người hôm trước còn cắt tóc cho nhau, hôm sau đã nằm lại. Bùi Tiến nhớ những người lính buông súng trong giờ phút cuối cùng và niềm nhẹ nhõm khi họ được trở về với gia đình. Lương Xuân Cảnh nhớ một món nợ nhỏ phải trả cho xong trước ngày vào trận, bởi người ra đi không biết có còn ngày quay lại. Trong Những người bạn lính Cơ Điện, có một chi tiết đặc biệt: trước một đoàn xe có dân thường, người lính Cơ Điện Từ “râu” đã nâng nòng súng lên thay vì bắn thẳng vào đám đông. Đó chỉ là vài giây giữa chiến tranh, nhưng có những vài giây đủ để cho biết một con người sẽ mang điều gì trở về sau chiến tranh.
K9 vì thế không phải một thế hệ “không biết sợ”. Họ biết sợ, biết đau, biết nhớ nhà, biết nghĩ tới cái chết. Sự can trường của họ nằm ở chỗ vẫn đi khi đang sợ, và giữa nơi mà mạng sống rất rẻ, vẫn cố giữ cho mình một đường ranh không được bước qua.
Có lẽ một phần phẩm chất K9 đã được tôi từ chính những đường ranh như thế.

Tập san kỷ niệm 40 năm nhập học – 35 năm ra trường K9 Đại học Cơ Điện, 2013.
2. K9 oai hùng – nhưng oai hùng cả trong cái đói
K9 không chỉ đi qua chiến tranh. Họ đi qua một thời sinh viên mà cái thiếu gần như có mặt ở mọi nơi: thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nước, thiếu phương tiện học tập, thiếu cả một chỗ đủ ấm để ngủ.
Và kỳ lạ thay, càng đọc những trang ấy càng ít thấy than thở.
Tạ Sỹ Bình nhớ những luống rau cải K9. Đất quanh trường còn hoang, đời sống sinh viên khó đến mức mỗi thứ thêm được vào bếp ăn đều quý. Người K9 cuốc đất, trồng rau, bón rau; gần Tết, hàng trăm kilôgam rau được thu về. Đằng sau mấy luống cải không có diễn văn nào về tinh thần tự lực. Chỉ đơn giản: thiếu rau thì trồng rau. Đời sống khó khăn được giải quyết bằng một thứ bản năng rất Cơ Điện: thấy việc thì làm.
Phạm Văn Cường nhớ “rét học trò”. Cái rét Thái Nguyên lọt qua phòng ở, áo mỏng, chăn thiếu; sinh viên phải nằm sát vào nhau cho ấm. Bữa cơm mùa đông ăn thật nhanh, rồi uống ngay bát nước nóng để níu chút hơi ấm trong người. “Rét học trò” nghe vừa buồn vừa buồn cười, nhưng trong hai chữ ấy có cả một thời.
Nguyễn Đức nhớ chuyện vác gang ở ga Lưu Xá B. Những thỏi gang vài chục cân cứ tưởng chỉ cần khỏe là làm được; vác một lúc mới biết vai bầm, tay rát, lưng như gãy. Người công nhân nhìn qua đã nhận ra: “Lính Cơ Điện vào làm thêm hả?” Sinh viên ngạc nhiên hỏi sao biết. Người ta bảo sinh viên Cơ Điện có “một cái gì đấy”, nhìn không nhầm. Có lẽ ngày ấy chính họ cũng không biết “cái gì đấy” là gì. Năm mươi năm sau, khi ghép hàng trăm câu chuyện lại, ta mới bắt đầu đoán được: một chút ngang tàng, một chút chịu khó, một chút nghịch, một chút tự trọng, và rất nhiều khả năng sống với nhau.
Cái đói của K9 có lúc được kể bằng một quả mít. Ba chàng sinh viên đói quá, mua chịu quả mít còn xanh, tối đem về ăn rồi thức cả đêm ôn thi; hôm sau một người lại gặp đúng phần vừa học. Kỷ niệm còn lại được gói trong bốn chữ thơm – ngon – nóng – may. Nó có trong cái ăng gô đáy lồi nhét cá khô đến phồng cả đáy; trong bát canh rau dệu bạn mang vào quân y viện; trong chiếc áo bông dùng chung; trong tem lương thực vài chục gam; trong những đôi tất phải mượn nhau; trong chén chè ngày thi dành cho thầy; trong chuyến tàu chen chúc từ Lưu Xá về Hà Nội; trong những đêm cả phòng cười lên vì một trò nghịch mà sáng hôm sau vẫn phải vào lớp.
K9 có một khả năng đáng nể: họ không chỉ chịu được gian khổ; họ còn biết cười vào gian khổ.
Đó là lý do những hồi ức của họ không mang màu bi lụy. Người đọc có thể vừa rưng rưng ở một trang, sang trang sau đã bật cười. Người từng vào chiến trường cũng có thể thi trượt. Người từng cầm súng vẫn tán gái vụng về. Người kỹ sư tương lai vẫn có thể mặc một chiếc quần may từ bao bì viện trợ, phía trước còn nguyên hàng chữ khiến các cô gái nhìn thấy phải cười. Một nhóm thanh niên đi sinh nhật không có quà có thể tổ chức hẳn một “chiến dịch” hái táo nhà hàng xóm, vừa đi vừa hao hụt cho đến khi số táo còn lại đúng… mười tám quả.
Đó mới là K9 bằng xương bằng thịt.
Và có lẽ chính ở đây, hai chữ “oai hùng” có thêm một nghĩa rất đời: không để gian khổ lấy mất niềm vui sống.
3. Một mái trường nghèo – và những người thầy quá giàu
Nếu chỉ có chiến tranh và nghèo khó, K9 có thể trở thành một thế hệ cứng cỏi. Nhưng để thành một thế hệ biết thương nhau lâu đến vậy, phải có thêm một thứ khác.
Đó là những người thầy.
Trong ký ức K9, thầy cô không đứng trên một bục cao xa cách. Họ đi vào phòng ở sinh viên, ngồi bên bản vẽ, chia tiền cho học trò trước ngày ra trận, lên tàu cùng học trò, tới thăm lớp vào ban đêm. Có những mối quan hệ mà sau vài chục năm, ranh giới “thầy – trò” gần như được phủ thêm bằng một lớp nghĩa khác: người thân.

Trần Thanh Tuân kể một tối tháng 4/1977, khi cả phòng đang làm đồ án Chi tiết máy, một người đàn ông đi ủng cao su bước vào. Đám sinh viên thoạt đầu tưởng ông bán chè hay một người nông dân. Rồi mới nhận ra đó là thầy Lê Ái Châu. Thầy ngồi xuống, xem bản vẽ, chỉ từng kết cấu, giải từng chỗ bí. Thầy trò làm đến gần một giờ sáng. Rồi thầy lại đi bộ quãng đường dài về nhà. Trong ký ức học trò, điều lớn không phải thầy giỏi đến đâu, mà là một người thầy chín giờ tối vẫn đi tìm sinh viên để hỏi các em có cần gì không.
Thầy Nguyễn Quốc Phồn lại để lại một kiểu ký ức khác. Ông nói chuyện về điện khiến sinh viên Điện nghe xong thấy học Điện là nhất. Hai hôm sau nói về Máy, từ cách mạng kỹ thuật đến những cỗ máy, robot, lại khiến sinh viên Cơ khí hừng hực tin rằng Máy mới là nhất. Cái tài của người thầy không chỉ nằm ở kiến thức. Ông có khả năng làm những người trẻ thấy ngành mình đang học không phải vài trang giáo trình, mà là một phần của tương lai đất nước.
Cô Nguyễn Huệ Phi lại cung cấp một góc nhìn rất quý: người thầy nhìn lại K9. Cô nhớ sinh viên K9 tiếp cận Nga văn kỹ thuật rất nhanh, chủ động và say mê. Nhưng mấy chục năm sau, điều cô kể nhiều hơn lại là những học trò Hải Phòng chen tàu đưa cô về quê, lấy lưng chịu quang gánh đè lên đầu cô giữa toa tàu chật như nêm; rồi sau khi cô chuyển vào Nam, chính những học trò K9 thay cô chăm sóc phần mộ mẹ nhiều năm, chụp ảnh gửi vào, sau này lại giúp xây lại mộ. Cô viết rằng trở về Hải Phòng giống như trở về gia đình mình.
Có một câu của Vũ Quang Sáng rất đáng giữ: người kỹ sư từ Đại học Cơ Điện, trước tấm bằng kỹ sư còn có một tấm bằng khác – “học làm người.”
Người ta không cấp tấm bằng ấy trong lễ tốt nghiệp.
Nó được trao vào những đêm một người thầy ngồi cùng sinh viên tới khuya; vào những năm học trò thay cô giáo chăm mộ mẹ; vào một chuyến tàu thầy trò chen nhau; vào việc người thầy nghiêm khắc không hạ chuẩn thi cử vì thương người lính trở về; vào những ngày thầy và trò cùng mặc một màu áo lính.
K9 đi ra từ một mái trường còn rất nghèo về vật chất.
Nhưng họ đã gặp một thế hệ thầy cô quá giàu về nhân cách.
Và cái giàu ấy truyền được.
4. Không phải một K9 – mà là rất nhiều K9
“K9 oai hùng” sẽ trở thành một lời tâng bốc nếu ta cố dựng tất cả thành những người giống nhau.
Nhưng tư liệu lại cho thấy điều ngược lại.
K9 rất khác nhau.
Có người lính. Có người học giỏi. Có người thi lại. Có người thành nhà quản lý, người làm kinh tế, người nghiên cứu, người viết văn, người tổ chức cộng đồng. Có người nổi bật. Có người không có chức danh gì đáng kể nhưng bạn bè vẫn nhớ đến sau nửa thế kỷ bởi một việc nhỏ từng làm cho nhau. Chính Trần Thanh Tuân từng viết: “Mỗi người một giọng, bản hợp xướng Cơ Điện mới Tuyệt chứ.” Trong bài Làm cái quý của mình to ra, anh phản đối việc biến những trang Cơ Điện thành nơi khoe chữ hay đánh bóng tên tuổi; điều đáng giữ là cái thật của mỗi người, kể cả những chỗ sù sì, gai góc.
Có lẽ đó cũng là cách đúng nhất để nhìn K9: một bản hợp xướng.

Nguyễn Trọng Luân là một bè trầm. Người lính trở về, về sau thành kỹ sư và người viết. Trong trang viết của anh, người đã mất luôn có nhiều chỗ hơn bản thân anh. Anh cứ trở lại chiến trường cũ, Thành cổ, những cánh rừng, những ngày cuối tháng Tư; không phải vì không thoát khỏi quá khứ, mà như thể mình mang một món nợ với những người không còn cơ hội tự kể.
Trần Thanh Tuân là một bè khác: sôi nổi, hài hước, nhớ từng biệt danh, đứng ra tổ chức hội khóa, viết blog, làm sách, viết bài hát, lo chuyện hiếu hỉ. Một người có thể dùng cả đời để làm một việc tưởng rất nhỏ: đừng để anh em quên nhau.
Lưu Thiết Sơn nhớ K9 từ những thứ rất vật chất: tem ăn, toa tàu, cái giếng, quần áo, phòng ở, chuyện nghịch. Nhưng từ những thứ tưởng nhỏ ấy, khi đã ở tuổi nghỉ hưu, anh lại hỏi một câu rất lớn: “Bây giờ chúng mình cần gì?” Và câu trả lời sau một đời tranh đấu với công việc, cơm áo, danh vị cuối cùng vẫn quay về với yêu thương.
Nguyễn Văn Vân lại là một câu chuyện về sức bật. Mẹ mất giữa kỳ thi; anh bỏ dở nhiều môn, có lúc nợ tới chín môn. Hơn bốn tháng hè, anh trả xong cả chín với kết quả tốt để tiếp tục đi cùng lớp.
Vũ Quang Sáng lại đại diện cho một hướng khác: sau năm mươi năm không chỉ trở về để nhớ, mà để đặt câu hỏi mình có thể trả lại gì cho trường.
Còn rất nhiều người khác không cần trở thành “nhân vật chính” mới có chỗ trong K9. Bởi điều đẹp nhất của cộng đồng này là dường như ký ức của họ không chỉ dành cho người thành đạt. Họ nhớ cả người học kém, người nghịch, người bán quán, chị nuôi, người bạn bệnh tật, những mối tình không thành, những người đã hy sinh và những người gần như không để lại dấu ấn nào ngoài việc đã từng ở bên nhau.
Đó mới là sức mạnh của một thế hệ.
Không phải tất cả cùng tỏa sáng.
Mà là không ai bị loại khỏi ánh sáng của ký ức.
5. K9 oai hùng nhất ở chỗ nào?
Có thể nhiều người sẽ trả lời: ở chiến tranh.
Nhưng sau khi đi hết kho tư liệu, mình nghĩ câu trả lời còn nằm ở một nơi khác.
K9 oai hùng nhất ở khả năng giữ nhau suốt một đời.
Năm 2013, khi kỷ niệm 40 năm vào trường và 35 năm ra trường, họ không đặt tên sự kiện theo kiểu trang trọng thường thấy. Họ gọi:
K9 VỀ VỚI NHAU.

Trong bài khai mạc, Trần Thanh Tuân nói họ gặp lại nhau sau gần hết một đời người: năm năm sinh viên và ba mươi lăm năm lăn lộn trong đủ đắng cay, vinh quang. Bao nhiêu thứ đã thay đổi; chỉ có một thứ họ muốn giữ nguyên: TÌNH VÀ NGHĨA. Và anh dùng một câu nghe tưởng rất bình thường nhưng càng đọc càng thấy nó chính là linh hồn K9: “Trào dâng lên tất cả là ao ước được VỀ VỚI NHAU.”
Chữ VỀ ấy có lẽ là từ quan trọng nhất của K9.
Về với người còn sống.
Về với thầy cô.
Về nơi người đã mất.
Về với những quán nước cũ.
Về với ga Lưu Xá.
Về với đồi sim, bạch đàn.
Về với một đoạn đường chỉ một cây số.
Về với tuổi hai mươi.
Và cuối cùng, về với phần con người mà năm tháng chưa lấy đi được.
Những cuộc trở về ấy được làm bằng việc chứ không chỉ bằng lời.
Bạn đau thì tìm đến.
Bạn khó thì góp.
Bạn mất thì đi tiễn.
Bạn biệt tích gần bốn mươi năm thì lần theo cho bằng được. Trong các ghi chép về lễ hội K9 năm 2013, một người K6 xem việc tìm lại người bạn K9IA sau mấy chục năm, rồi cả đoàn Hải Phòng có thầy Hoàng Ngọc Tuấn và bạn bè đến đón về dự hội, là một trong những điểm nhấn nhân văn nhất của cuộc gặp.
Nguyễn Thanh Vân bệnh nặng, những người bạn từ nhiều nơi tìm đến Đà Nẵng. Người vợ của anh – một người K11 – sau những ngày ấy mới viết rằng mình hiểu sâu đến thế nào là Tình người Cơ Điện.
Bùi Tiến sốt rét giữa Trường Sơn, bạn mang ba lô hộ, nhường phần ăn, khiêng cáng trong đêm.
Hoàng Minh Dương trước ngày vào chiến trường nhất quyết trả món nợ nhỏ cho bà bán quán.
Một bà mẹ nông dân tìm được mười hai lọ penicillin gửi cứu người bạn của con mình.
Học trò K9 thay cô giáo chăm mộ mẹ suốt nhiều năm.
Những việc ấy nếu tách ra đều nhỏ.
Nhưng khi hàng trăm việc nhỏ cùng chỉ về một hướng, chúng tạo thành một phẩm chất tập thể.
K9 không giữ nhau bằng những lời thề. Họ giữ nhau bằng việc không để ai phải ở lại một mình.
Đó mới là thứ oai hùng khó làm nhất.
Bởi thắng một trận đánh có thể cần vài ngày.
Giữ một tình bạn cần cả đời.
6. Những người chống lại sự lãng quên
Rồi đến một lúc K9 nhận ra một đối thủ khác.
Không phải chiến tranh.
Không phải cái đói.
Không phải tuổi già.
Mà là sự lãng quên.
Năm 2013, cùng với K9 về với nhau, họ làm sách Về với nhau, CD, DVD, kỷ vật. Trong thư của Ban Biên tập, một tư tưởng rất đáng chú ý được nói thẳng: cuốn sách phải giữ được hơi thở thật của đời sinh viên – trẻ trung, sôi nổi, nghịch ngợm; phải phản ánh những câu chuyện nguyên thủy của từng người, bởi đó là “tài sản” của cả khóa.
Mười năm sau, năm 2023, lại có Ký ức năm mươi mùa thu.
Nhưng hành trình giữ K9 không nằm trong hai cuốn sách ấy. Nó nằm trong những trang blog, bài hát, thơ, những cuộc gặp, những chuyến về nguồn, trong việc người này viết về người kia, khóa sau viết về khóa trước, thầy cô viết về học trò và vợ chồng viết về người bạn đời của mình.
K9 không chỉ có ký ức.
Họ tổ chức việc nhớ.
Trần Thanh Tuân giữ K9 bằng những cuộc gặp, bằng việc khuấy động cộng đồng, bằng những lần “nôn nao” trước ngày 6/12 dù tóc đã bạc.
Nguyễn Trọng Luân giữ bằng những trang viết, bằng việc trở lại chiến trường cũ và gọi tên những người không còn cơ hội trở về.
Một người giữ K9 bằng những cuộc gặp.
Một người giữ K9 bằng những trang viết.
Và rất nhiều người khác giữ nó bằng việc không để một cái tên biến mất.
Có lẽ đó là nguyên nhân sâu xa vì sao sau năm mươi năm, K9 còn có thể nhớ được từ những việc lớn như chiến tranh, ra trường, lập nghiệp đến những thứ nhỏ gần như không thể nhỏ hơn: một bông sim, mấy múi mít, một người bán bánh sắn, một quán nước, một lời nói của thầy, một biệt danh từ thời sinh viên.
Người đã mất không thể tự giữ tên mình.
Người còn sống phải làm việc đó.
K9 đã làm.
7. Nhưng thiên hùng ca K9 không thể kết ở hoài niệm
Nếu K9 chỉ biết trở về để ngồi kể chuyện xưa, đó sẽ là một cộng đồng có ký ức đẹp.
Nhưng chưa đủ để trở thành một ngọn lửa có thể đi tiếp.
Điều đáng chú ý nhất trong những tư liệu về K9 những năm gần đây là chữ VỀ đã bắt đầu đổi nghĩa.
Năm mươi năm sau ngày nhập trường, trong sự kiện “K9 Đại học Cơ Điện nửa thế kỷ bên nhau”, K9 trở về trường. Họ trồng cây, gặp lại thầy cô, những người từng hướng dẫn ở xưởng thực tập và thế hệ sinh viên hiện tại. Nhưng Vũ Quang Sáng đặt ra một câu hỏi xa hơn ký ức: người Cơ Điện khi đã có chút thành công, kinh nghiệm, có thể làm gì để đền đáp ngôi trường đã đào tạo nên mình?

Từ câu hỏi ấy là Tổ tư vấn của Trường, sự vận động cựu giáo viên và cựu sinh viên trong và ngoài nước, hỗ trợ các phòng thí nghiệm và xưởng thực tập, thay dần những máy phay, tiện, doa, bào đã cũ; là những cây hoa được trồng, những suy nghĩ về AI, robot, hợp tác quốc tế, về đào tạo “Nhân tài Cơ Điện”.
Đây là một sự chuyển động rất đẹp.
Năm 1973, họ bước vào trường bằng bàn tay của những người trẻ.
Họ nhận kiến thức.
Nhận miếng cơm.
Nhận tình thầy.
Nhận tình bạn.
Có người nhận cả cơ hội sống.
Rồi họ đi.
Đi qua chiến tranh.
Đi qua nhà máy.
Đi qua cơ chế bao cấp.
Đi qua Đổi mới.
Đi qua những năm tháng lập nghiệp, dựng gia đình, nuôi con, thành công và thất bại.
Năm mươi năm sau họ trở lại.
Bàn tay ấy đã khác.
Nó không còn chỉ để nhận.
Nó biết trao.
Bởi vậy, nếu phải nói K9 “oai hùng” ở đâu, có lẽ phải nói cả đoạn sau cùng này: oai hùng không phải chỉ vì đã đi qua những năm dữ dội, mà vì sau một đời người vẫn còn đủ tình để quay lại nơi mình bắt đầu và hỏi: mình có thể để lại gì cho người đến sau?
Đó là lúc ký ức biến thành di sản.
8. Hơn nửa thế kỷ vẫn biết đường về
Ga Lưu Xá hôm nay không còn như năm 1973.
Những quả đồi đã khác.
Bạch đàn có thể đã mất.
Sim mua không còn tím đúng chỗ những chàng trai năm xưa từng ngồi.
Những mái nhà lá không còn.
Quán Ông Già, quán Thủy Mù, những chiếc giếng, những phòng ở, con đường nhỏ ra ga… phần lớn chỉ còn trong ký ức.
Ngôi trường cũng đã thay đổi rất nhiều.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là những con người từng bước qua đó vẫn nhớ.
Nhớ đến mức một đoạn đường chỉ khoảng một cây số có thể thành một bài viết.
Nhớ một người thầy đến mức gần nửa thế kỷ sau vẫn kể lại chính xác dáng đi, giọng nói.
Nhớ một người bạn đến mức đi tìm sau mấy chục năm.
Nhớ một người đã chết đến mức trở lại nơi họ nằm xuống.
Nhớ trường đến mức những bài thơ, bài hát của K9 cứ lặp đi lặp lại một động từ:
Về.
Về với nhau.
Ngày tôi trở về trường cũ.
Trở về miền tuổi trẻ.
Hãy về hội khóa bạn ơi.
Anh đưa em về trường cũ.
Ta tìm về lại trường xưa.
Về lại mái trường xưa.
Đó không phải là thứ hoài niệm muốn quay lưng với hiện tại. Một thời như thế có quá nhiều thứ chẳng ai muốn sống lại: chiến tranh, đói, rét, sốt rét, cái chết, những mối tình dở dang, những năm tháng làm lại gần như từ đầu.
Họ về không phải vì ngày xưa đẹp hơn bây giờ.
Họ về bởi ở nơi ấy có một phần căn cước của mình.
Về với bạn là về với người đã biết mình trước khi mình có chức vụ.
Về với thầy là về với người đã tin mình trước khi mình thành kỹ sư.
Về với ga Lưu Xá là về với buổi đầu chưa ai biết cuộc đời sẽ đưa mình đến đâu.
Về với người đã khuất là nói: chúng tôi chưa quên.

Và về với trường là về với nơi đã dạy một thế hệ rằng giữa cuộc đời rất nhiều thứ có thể đổi thay, nhưng có những thứ nếu đánh mất thì dù thành đạt đến đâu con người cũng trở nên nghèo đi.
K9 có nhiều người giỏi.
K9 có những người thành đạt.
K9 có những con người tài hoa, ngang tàng, sâu sắc, hài hước.
K9 có rất nhiều phong cách.
Nhưng cái làm nên K9 không phải là họ đã đi cao đến đâu.
Mà là sau khi đi xa đến thế, họ vẫn nhận ra nhau.
Vẫn có thể gọi nhau bằng biệt danh năm hai mươi tuổi.
Vẫn nhớ người đã khuất.
Vẫn tìm người thất lạc.
Vẫn nhớ món nợ nhỏ trước ngày ra trận.
Vẫn nhớ một bát canh.
Một chiếc áo.
Một quả mít.
Một người thầy.
Một bà mẹ.
Một người bạn.
Và vẫn biết đường về.
Có một tối tháng 12 năm 1992, Nguyễn Trọng Luân viết bài Ta hãy về với nhau. Theo tài liệu lưu trữ, hai câu kết sau đó được đọc trong một cuộc gặp của K9 ở 35 Tràng Tiền và dần vượt khỏi bài thơ, vượt khỏi K9 để trở thành một câu mà nhiều thế hệ Cơ Điện nhận là của mình:
Người Cơ Điện ở đâu
Tình cũng như lửa cháy.
Có lẽ câu ấy không cần thêm một lời giải thích nào nữa.
Bởi K9 đã dùng nửa thế kỷ để giải thích nó.
Bằng cách họ đi.
Bằng cách họ sống.
Bằng cách họ chia.
Bằng cách họ đỡ.
Bằng cách họ nhớ.
Bằng cách họ giữ nhau.
Và bằng cách họ trở về.
Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở K9, ngọn lửa ấy rồi cũng sẽ nhỏ dần cùng những mái đầu bạc.
May thay, thiên hùng ca này còn một chương khác.
Những người đã được trao đang trở về để trao.
Những câu chuyện từng nằm trong trí nhớ đang thành sách, thành trang viết, thành lời kể để những người chưa từng biết cái rét học trò, chưa từng đứng ở ga Lưu Xá thời chiến, chưa từng ăn một suất cơm sinh viên của những năm bảy mươi vẫn có thể hiểu rằng trước khi có một ngôi trường hôm nay đã từng có những người thầy và học trò sống với nhau như thế nào.
Và khi ấy, câu chuyện K9 sẽ không dừng ở K9.
Nó sẽ đi tiếp – từ khóa này sang khóa khác; từ người thầy sang học trò; từ người đã bạc tóc sang người vừa bước qua cổng trường; từ những người từng nhận lửa sang những người đang chuẩn bị cầm lấy nó; từ một thế hệ đã đi gần hết cuộc đời sang những thế hệ còn cả cuộc đời ở phía trước.
Bởi điều quý nhất của một ngọn lửa không phải là nó đã cháy bao lâu, mà là trước khi tắt trong một bàn tay, nó đã kịp truyền sang bàn tay khác.
Và K9 – hơn nửa thế kỷ – vẫn biết đường về.
Không chỉ để gặp nhau.
Mà để trao lửa.
VỀ NGUỒN TƯ LIỆU
Bài viết này được hình thành từ một kho tư liệu của nhiều thế hệ Cơ Điện, trong đó nguồn quan trọng nhất là tập Ký ức năm mươi mùa thu – tập truyện ký, thơ, nhạc của cựu sinh viên K9 Trường Đại học Cơ Điện, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2023 – cùng tập san Về với nhau do Cựu sinh viên K9 Cơ Điện thực hiện nhân 40 năm nhập học, 35 năm ra trường năm 2013. Ký ức năm mươi mùa thu tập hợp hàng chục câu chuyện về đời sinh viên, chiến tranh, thầy cô, tình bạn, những người đã mất và những cuộc trở về; còn Về với nhau lưu lại một lớp ký ức sớm hơn, cùng những bài viết, bài hát và quan niệm của chính K9 về việc gìn giữ ký ức của khóa mình.
Bên cạnh hai ấn phẩm ấy, bài còn sử dụng và đối chiếu nhiều nguồn khác: những bài viết từng đăng trên Blog Hội Đại học Cơ Điện và các trang cá nhân; bài phát biểu tại các kỳ hội khóa; hồi ức và ghi chép của cựu sinh viên K9; lời kể của những cựu sinh viên khóa khác; tư liệu từ phim Tình người Cơ Điện; các bài viết, chân dung nhân vật được sưu tầm qua nhiều năm; cùng những hình ảnh, kỷ vật và tài liệu do chính những người Cơ Điện lưu giữ.
GHI CHÚ VỀ NHÂN VẬT
Trong bài viết, K9 trước hết được hiểu là Khóa 9 Trường Đại học Cơ Điện, nhập trường năm 1973 và phần lớn tốt nghiệp năm 1978. Tuy nhiên, lịch sử chiến tranh đã tạo nên một đặc điểm rất riêng của thế hệ này: một số sinh viên các khóa trước phải rời giảng đường nhập ngũ, sau chiến tranh trở về trường và hoàn thành chương trình đại học cùng K9. Trong ký ức và cách gọi của cộng đồng Cơ Điện, họ trở thành một phần của đời sống và ký ức K9. Tư liệu hiện có nêu những trường hợp như Nguyễn Trọng Luân (K5 ⟶ K9MA), Nguyễn Đình Chiến (K5 ⟶ K9) và Nguyễn Cát Tường (K7 ⟶ K9MB).
Vì vậy, khi bài viết gọi họ trong không gian chung của K9, điều đó không có nghĩa họ đều nhập học cùng K9 năm 1973, mà phản ánh một thực tế đặc biệt của thời chiến: những dòng đời thuộc các khóa khác nhau đã gặp nhau trong cùng giảng đường sau ngày trở về. Chính sự hội tụ giữa những sinh viên trẻ và những người đã đi qua chiến trường là một trong những yếu tố tạo nên diện mạo rất riêng của K9.
Một số nhân vật xuất hiện nhiều lần – như Nguyễn Trọng Luân, Trần Thanh Tuân, Lưu Thiết Sơn, Vũ Quang Sáng, Bùi Tiến, Nguyễn Đức, Lương Xuân Cảnh… – không được lựa chọn để đại diện cho toàn bộ K9, mà bởi tư liệu của họ còn lại tương đối phong phú hoặc câu chuyện của họ soi sáng một khía cạnh của đời sống khóa. Bên cạnh họ còn rất nhiều người chỉ xuất hiện qua một kỷ niệm, một biệt danh, một hành động nhỏ, thậm chí chỉ qua ký ức của người khác. Chính những con người ấy cũng là một phần không thể thiếu của chân dung tập thể K9.
Tên gọi, biệt danh, lớp học và một số chi tiết đời sống trong bài được giữ theo cách các tác giả và nhân chứng sử dụng trong nguồn tư liệu. Với những nhân vật đã mất, bài viết cố gắng chỉ sử dụng những thông tin cần thiết cho câu chuyện, với sự trân trọng đối với người đã khuất và gia đình.
Và có lẽ cũng cần nói thêm: đây không phải bảng xếp hạng những người K9 nổi bật. Có người trở thành nhà khoa học, nhà quản lý, người làm kinh tế, người viết; có người sống một cuộc đời bình dị. Trong bài viết này, một người được nhớ không phải vì chức vụ của họ cao đến đâu, mà vì điều họ đã để lại trong ký ức của những người từng đi cùng mình.


