Đọc Bình minh phía trước của Nguyễn Trọng Luân
Có những cuốn sách viết về chiến tranh bằng những trận đánh. Có những cuốn sách viết bằng chiến thắng, bằng những đường tiến quân, những cao điểm, những chiến dịch và những ngày tháng đã đi vào lịch sử.
Bình minh phía trước của Nguyễn Trọng Luân cũng có tất cả những thứ ấy. Có Tây Nguyên, có những cánh rừng, những chốt, những trận pháo, những cuộc hành quân, những đợt luồn sâu, những cửa mở, xe tăng, B40, B41, cối 60, những bước chân từ rừng ra biển trong mùa xuân cuối cùng của chiến tranh.
Nhưng đọc hết cuốn sách, thứ ở lại sâu nhất lại không phải là một trận đánh.
Mà là một tiếng hát.
Thọ mắm bị thương nặng, bốn chân tay đã dập nát. Thành ích cùng đồng đội khiêng Thọ chạy về trạm phẫu. Máu từ võng tưới xuống áo, xuống mặt người bạn đang gồng mình cáng phía sau. Trong lúc cái chết đã ở ngay trong thân thể mình, Thọ bỗng hát bài hát nó vẫn thích: “Đàn theo ta đi…”. Rồi nó nhờ Thành, nếu còn sống trở về, hãy tìm Ngọ – đứa em gái mồ côi của nó – mà che chở. Đến trạm phẫu thì Thọ chết.
Tối hôm ấy, Thành ích đốt quai dép lấy muội làm mực, dùng kim xăm ngày Thọ chết lên tay. Một ngày giỗ của người bạn từ đó nằm luôn trên da thịt người còn sống.
Có lẽ phải bắt đầu đọc Bình minh phía trước từ một cảnh như thế.

Bởi Nguyễn Trọng Luân không kể chiến tranh từ trên cao, từ những chiến dịch, những mũi tiến công hay những con số thương vong, mà kéo người đọc xuống rất gần đời sống của người lính: một cái võng cáng thương, một nắm cơm, một cơn sốt, một chiếc bật lửa, một bài thơ viết trên ống lồ ô, một cô gái bản, một người lính biết sợ chết, một người lính từng bắn nhầm đồng đội, một người thầy khóc học trò trên cáng thương, một cuốn sổ ghi tên những người đã chết. Chính từ vô số chi tiết nhỏ bé, riêng tư và tưởng như vụn vặt ấy, chiến tranh dần hiện lên với đầy đủ chiều sâu của nó; và hơn cả chiến tranh, một thế hệ hiện lên.

Ông không tạc người lính. Ông nhặt người lính.
Đây có lẽ là điều đặc biệt nhất trong cách Nguyễn Trọng Luân viết Bình minh phía trước.
Ông không lấy một nhân vật thật đẹp, thật sáng, thật hoàn chỉnh rồi đặt người ấy lên bệ cao để đại diện cho cả thế hệ. Ông cũng không dựng một người anh hùng từ đầu đến cuối để câu chuyện xoay quanh người ấy.
Ông làm một việc khác.

Ông nhặt.
Nhặt Thọ mắm – một thằng lính hay hát, thương chị, thương em, chết trên cáng.
Nhặt anh Xanh – người lính chưa biết chữ, vào lớp học giữa chiến trường, gọi chính người đồng đội trẻ hơn mình là “thầy”, rồi học xong trở lại đơn vị chiến đấu và hy sinh.
Nhặt Tạ cối – chết đi để lại chiếc đèn pin cổ ngoéo và cái bật lửa. Hợi cối ôm cái gùi của bạn, khóc và tự hứa nếu mình còn sống nhất định sẽ mang những thứ ấy về cho bố Tạ.
Nhặt Lộc – một người lính đã giả điếc để được ở phía sau, rồi chính những ngày được sống ấy lại làm anh khổ sở bởi cảm giác mình đang “ăn quỵt bạn bè”. Đến một ngày Lộc thú nhận với Phiến và muốn quay lại chiến đấu. Phiến nói một câu dữ dội mà nhân hậu: sống cứ dối mình, cứ đóng kịch như thế, có khi còn khổ hơn chết.
Nhặt anh Túng – người trợ lý chính sách mang bên hông một chiếc túi mìn cờ lê mo. Trong đó không phải là chiến lợi phẩm, mà là tên tuổi và tọa độ mộ chí của những người đã chết. Anh tự nhận mình như một người quản trang mang cả nghĩa địa trên lưng, sống cùng hàng trăm con người trong một “nghĩa trang bằng giấy”.
Nhặt cả những nắm cơm đã lên mùi, những cơn sốt rét làm vàng người, những cái bụng đói, những điếu thuốc rê chuyền tay nhau; nhặt cả tiếng chửi thề, những câu chuyện gái trai, những lần “ngửi mồm” vừa buồn cười vừa xao xác và cả những con người không phải lúc nào cũng đẹp đẽ. Nhặt, nhặt và nhặt – Nguyễn Trọng Luân cứ lặng lẽ nhặt như thế suốt cuốn sách, nhưng điều đáng nói là ông không lựa riêng những mảnh sáng để làm đẹp chân dung người lính.
Ông giữ sự dũng cảm bên cạnh nỗi sợ, lòng trung thành bên cạnh phút yếu lòng, sự hy sinh bên cạnh những thôi thúc bản năng; giữ cái cao cả mà không xóa đi nét tục tằn, giữ người chỉ huy đúng nhưng cũng không giấu người chỉ huy sai, giữ người lính xông lên và cả người lính đã có lúc muốn lùi lại. Bởi vậy, người lính trong Bình minh phía trướckhông hiện ra như những pho tượng đã được đẽo gọt, đánh bóng và hoàn tất, mà như những con người đang thực sự sống, với đủ sáng tối, mạnh yếu và những góc cạnh của đời thường. Bởi người sống thì không bao giờ nhẵn.
Một bức khảm, chứ không phải một khối đá
Có thể hình dung cách Nguyễn Trọng Luân dựng cuốn tiểu thuyết này như cách người ta làm một bức khảm lớn.
Mỗi nhân vật là một mảnh.
Thành ích là một mảnh lớn. Quyết Hà Giang, Phiến cũng là những mảnh lớn. Nhưng bên cạnh họ là Thọ, Bình trắng, Lã Thung, Chử Thanh Phong, thầy Thưng, Xanh, Lượng, Bàng Thông, Hợi cối, Tạ cối, Lộc, Tế tồ, Thiện lác, anh Túng, Nguyễn Vy, Sèn… Có người đi với ta hàng chục trang. Có người chỉ lóe lên một lần. Có người vừa kịp nhớ tên đã chết.
Đứng gần, người đọc đôi lúc tưởng cuốn sách đang tản ra.
Câu chuyện này nối câu chuyện kia. Người này bước vào rồi người khác xuất hiện. Một kỷ niệm chồng lên một kỷ niệm. Một cái chết gọi về một cái chết khác.
Nhưng nếu lùi ra xa, một hình lớn bắt đầu hiện lên.

Đó là chân dung của một thế hệ.
Điều thú vị là chính trong cuốn sách, Thành ích gần như đã nói ra quan niệm nghệ thuật ấy. Khi trò chuyện với Khuất Quang về chuyện sau này nếu sống trở về sẽ viết tiểu thuyết, Thành nói mình không muốn viết một người mà muốn viết nhiều người, bởi chẳng ai “điển hình” hoàn toàn, mỗi người chỉ có một phần điển hình và ai cũng còn những chỗ chưa đẹp.
Đọc đến đó, ta chợt hiểu: đây không chỉ là lời Thành ích.
Nó giống như một tuyên ngôn kín đáo về chính cách Nguyễn Trọng Luân đang viết cuốn tiểu thuyết này.
Ông không tạo ra một nhân vật để đại diện cho tất cả.
Ông để tất cả cùng đại diện cho chính họ.
Và điều nghịch lý đẹp đẽ xảy ra ở đó:
ông từ chối dựng một “người lính điển hình”, nhưng cuối cùng lại dựng được cả một thế hệ người lính.
Cái phi thường nằm ngay trong cái bình thường
Có một cách viết về chiến tranh là loại bỏ những gì vụn vặt để giữ lại những gì lớn lao.
Nguyễn Trọng Luân đi gần như theo chiều ngược lại.
Ông không tìm cái phi thường bằng cách loại bỏ cái bình thường. Ông tìm thấy cái phi thường ngay trong những con người hết sức bình thường.
Người lính của Nguyễn Trọng Luân biết đói và biết thèm, mà những điều họ thèm cũng bình dị như chính tuổi trẻ của họ: một miếng thịt, một điếu thuốc, lá thư nhà, chút rau xanh, một thìa đường lúc lên cơn sốt và cả bóng dáng một người con gái. Có lẽ hiếm có cuốn sách chiến tranh nào để người lính được thèm một cách hồn nhiên và thành thật đến thế.
Đặc biệt là nỗi thèm được gần phụ nữ. Những chàng trai mười tám, đôi mươi xa nhà hàng năm trời, sống giữa những cánh rừng hầu như không có bóng một cô gái người Kinh, nên chỉ một lần gặp cô gái Tây Nguyên cũng đủ làm lòng xốn xang. Những chuyện “ngửi mồm”, chuyện Phêu, những cô gái bên suối hay K’so Bem… trở đi trở lại trong cuốn sách, có lúc ngô nghê, có lúc thô ráp, có lúc khiến người đọc bật cười. Nhưng phía sau tiếng cười ấy là một sự thật rất người: càng ở gần cái chết, con người càng khao khát được sống.
Và khao khát sống trước hết đâu phải điều gì lớn lao. Đó có thể chỉ là một bữa ăn cho no, một giấc ngủ yên, một bàn tay con gái, một nụ hôn, một lá thư từ quê nhà hay niềm mong mỏi có ngày được trở về. Chiến tranh có thể biến những chàng trai thành người lính, buộc họ cầm súng và quen dần với cái chết, nhưng không thể bắt họ thôi làm người.
Bởi vậy, nếu chỉ đọc lướt, những câu chuyện gái trai trong Bình minh phía trước có thể được xem như chút vui đùa của lính giữa những ngày gian khổ; nhưng đặt chúng trong toàn bộ mạch tác phẩm, có thể thấy một tầng nghĩa sâu hơn: đó là bản năng sống chống lại cái chết. Cái chết càng áp sát, sự sống càng bật dậy mãnh liệt, như hoa dã quỳ vẫn mọc trên đất đỏ Tây Nguyên, như tiếng hát vẫn vang lên giữa căn hầm đầy mùi chiến trận, và như Thọ mắm, khi cái chết đã ở rất gần, vẫn cất tiếng hát trên cáng thương.
Người lính trong sách này được quyền sợ
Đây là một trong những nét đáng quý của Bình minh phía trước.
Nguyễn Trọng Luân không lấy việc “không biết sợ” làm thước đo duy nhất của lòng dũng cảm.
Nhân vật của Nguyễn Trọng Luân biết sợ: sợ chết, sợ pháo, sợ sốt rét, sợ rắn, sợ bị kỷ luật, sợ bị coi là hèn và sợ một ngày không còn cơ hội trở về. Thậm chí có người như Lộc đã tìm cách tránh hiểm nguy bằng cách giả điếc để được ở lại phía sau. Nhưng chính vì người lính được quyền sợ, nên khi họ vượt qua nỗi sợ ấy, lòng dũng cảm mới trở nên có trọng lượng. Không biết sợ mà xông lên chưa chắc đã khó; biết rất rõ phía trước có thể là cái chết mà vẫn bước tới, đó mới là điều đáng kể.
Nguyễn Trọng Luân còn đi xa hơn khi không né tránh những sai lầm của người chỉ huy. Xuân Dũng thua trận, để lính hy sinh rồi phải kiểm điểm; Phiến từng bắn nhầm đồng đội và mang theo nỗi dằn vặt. Những người chỉ huy trong cuốn sách không phải lúc nào cũng sáng suốt: họ có thể quyết định sai, có thể lúng túng, thậm chí có lúc trở thành nạn nhân của những cách xử lý kỷ luật cứng nhắc. Chính từ những điều không hoàn hảo ấy, tác phẩm đặt ra một câu hỏi nặng hơn: trong chiến tranh, người chỉ huy phải chịu trách nhiệm đến đâu đối với sinh mạng của những người lính dưới quyền?
Tiểu đoàn trưởng Kế từng nói một ý rất đáng suy ngẫm: sai lầm lớn nhất của người chỉ huy là để nhiều lính chết một cách vô ích. Câu nói ấy trở nên nặng nề bởi trong Bình minh phía trước, mạng người không bao giờ chỉ là một con số quân số. Sau mỗi người lính ngã xuống là một làng quê, một người mẹ, một người cha, một đứa em, một người thương đang đợi; là một lá thư chưa kịp gửi, một món đồ còn mong ngày mang về và, đau hơn tất cả, một cuộc đời chưa kịp sống hết.
Nhà Hòa Hợp: khi con người bước ra khỏi chiến tuyến
Một trong những đoạn gợi nhiều suy nghĩ nhất trong Bình minh phía trước là câu chuyện về Nhà Hòa Hợp. Sau Hiệp định Paris, hai phía có một nơi gặp gỡ với hy vọng những người ở hai bên chiến tuyến có thể tiếp xúc và hiểu nhau hơn. Ở đó, họ hút thuốc của nhau, trò chuyện với nhau; rồi một người lính phía bên kia đề nghị Thành ích hát. Thành hát Tình ca, phía bên kia đáp lại bằng một bài cải lương. Những lời diễn thuyết chính trị đang dang dở bỗng dừng lại, nhường chỗ cho tiếng hát, và trong mắt những người lính của cả hai phía đều ánh lên sự xúc động.
Khoảnh khắc ấy không kéo dài. Nhà Hòa Hợp rồi cũng không thực hiện được điều người ta kỳ vọng, những người lính lại trở về chiến tuyến; ban ngày từng ngồi bên nhau, hút chung điếu thuốc, nghe nhau hát, nhưng khi đêm xuống vẫn có thể trở thành những người bắn vào nhau. Chính sự ngắn ngủi và mong manh ấy khiến câu chuyện càng day dứt, bởi Nguyễn Trọng Luân đã chạm tới một sự thật giản dị mà xót xa: phía sau quân phục, chiến tuyến và những mệnh lệnh của chiến tranh vẫn là những con người biết nghe một bài hát, biết xúc động và biết rơi nước mắt.
Thành ích không vì thế mà quên mình đang đứng ở đâu, và cuốn sách cũng không xóa nhòa ranh giới của cuộc chiến. Nhưng trong khoảnh khắc đặc biệt ấy, Nguyễn Trọng Luân đã để con người hiện lên trước khi họ được nhận diện bởi phía này hay phía kia. Có lẽ đó là một trong những chiều sâu nhân bản của Bình minh phía trước: chiến tranh buộc những con người chưa từng quen biết phải đứng ở hai đầu nòng súng, nhưng chỉ một bài hát cũng có thể khiến họ trong phút chốc nhận ra ở phía bên kia vẫn là một con người biết nhớ, biết thương và biết đau như chính mình.
Văn chương mọc ngay trên chốt
Có một hình ảnh rất đẹp trong Bình minh phía trước: thơ viết trên ống lồ ô. Giữa chiến trường thiếu giấy, những người lính lấy ống lồ ô, cạo trắng mặt ngoài để viết thơ, viết chuyện, ghi lại những điều vừa xảy ra trên trận địa; rồi từ đó, một thứ “báo ống” ra đời ngay trên chốt. Đạn pháo vẫn có thể bay qua đầu, người cầm bút hôm nay có thể ngày mai đã không còn, nhưng thơ vẫn được viết, câu chuyện vẫn được kể. Những người lính nói với nhau một điều tưởng giản dị mà chứa cả quan niệm về văn chương: cứ sống thật, nói thật thì rồi sẽ thành văn; và cũng chính ở nơi cái chết luôn cận kề, họ nhận ra sự sống trở nên quý giá biết bao khi được đặt bên cạnh cái chết.
Hình ảnh “thơ lồ ô” cũng có thể xem như một chìa khóa để đọc Nguyễn Trọng Luân. Vẻ đẹp của Bình minh phía trước không nằm chủ yếu ở những câu chữ được gọt giũa cho bóng bẩy, mà ở mùi sống còn nguyên trong từng trang viết. Có những đoạn văn xù xì, những câu gần với lời kể miệng, những ý nghĩ trở đi trở lại; có cả tiếng “hì hì”, “he he”, những câu chửi, những biệt danh và cách gọi tưởng như rất vụn vặt. Nhưng chính những điều tưởng chưa được đánh bóng ấy lại làm nên hơi người của cuốn sách, khiến những người lính bước ra khỏi trang văn với dáng vẻ gần gũi, thô ráp và sống động như họ từng hiện hữu giữa chiến trường.
Văn chương của Nguyễn Trọng Luân vì thế có nét gì đó rất gần với “thơ lồ ô”: không phải thứ được viết trong một căn phòng yên tĩnh rồi cẩn thận đánh bóng cho đẹp, mà như lời bật ra ngay ở nơi con người vừa sống vừa chờ chết. Ông dường như không muốn người đọc nhìn chiến tranh qua một lớp kính đã được lau sạch; trên lớp kính ấy vẫn còn nguyên mồ hôi, bùn đất, máu, khói thuốc, nước mắt và cả dấu tay của những người lính. Chính những dấu vết ấy làm cho chiến tranh trong Bình minh phía trướckhông chỉ được kể lại, mà như vẫn còn hơi ấm của những con người đã đi qua nó.
Những vật nhỏ mang linh hồn người chết
Một trong những ám ảnh lặng lẽ mà dai dẳng nhất của Bình minh phía trước nằm ở những di vật của người đã khuất: cái bật lửa và chiếc đèn pin của Tạ, cuốn nhật ký, tấm ảnh, lá thư chưa gửi, cái thìa, miếng dù, ống lồ ô có thơ, hay chiếc túi mìn cờ lê mo mà anh Túng luôn mang bên mình. Đó đều là những vật nhỏ bé, bình thường, nhưng khi chủ nhân không còn nữa, chúng bỗng mang một sức nặng khác; chúng đi từ tay người chết sang tay người sống, rồi được người sống mang theo qua những chặng đường dài, có khi hàng tháng, hàng năm, với một mong ước giản dị mà day dứt: còn sống trở về để trao lại cho cha mẹ, người thân của đồng đội đã nằm xuống.
Bởi thế, trong cuốn sách này, cái chết không thực sự khép lại một số phận. Người chết vẫn tiếp tục hiện diện trong hành lý của người sống, trong một chiếc bật lửa, một tấm ảnh, một lá thư chưa gửi; và sâu hơn tất cả, họ sống trong ký ức của những người còn lại. Những di vật nhỏ bé ấy dường như trở thành chiếc cầu nối giữa hai phía sống – chết, để người đã mất vẫn cùng đồng đội tiếp tục cuộc hành quân mà họ không còn có thể tự mình đi hết.
Anh Túng là hình ảnh tập trung và ám ảnh nhất cho sự hiện diện ấy. Trong chiếc túi luôn đeo bên mình, anh giữ tên tuổi, sơ đồ và tọa độ những ngôi mộ đồng đội, đến mức những con số tưởng như vô tri cũng trở nên có linh hồn; chỉ cần một tọa độ bị ghi sai, chiếc túi trên vai dường như đã nặng thêm. Đó là một “nghĩa trang bằng giấy” – một hình ảnh nhỏ mà chứa đựng biết bao mất mát của chiến tranh.
Bởi những người đã chết không chỉ cần được thương tiếc; họ còn cần được nhớ đúng tên, đúng nơi nằm xuống và đúng cuộc đời mà họ từng sống. Giữa một cuộc chiến có quá nhiều người ra đi, giữ lại một cái tên, một tọa độ, một món đồ hay một câu chuyện cũng là cách người sống không để đồng đội mình tan biến vào vô danh. Bởi quên một người, đôi khi cũng giống như để người ấy chết thêm một lần nữa.

Từ rừng ra biển
Ở những chương cuối, không gian của Bình minh phía trước dần mở ra theo bước chân của đoàn quân. Những người lính đã sống và chiến đấu quá lâu giữa núi rừng Tây Nguyên bắt đầu đi xuống đồng bằng, để rồi trước mắt họ lần lượt hiện ra ruộng lúa, những hàng dừa, làng xóm, người dân và cuối cùng là biển. Vì thế, hành trình từ rừng ra biển không chỉ là sự dịch chuyển của một đoàn quân trên bản đồ chiến dịch, mà còn gợi cảm giác về một hành trình lớn hơn: từ chiến tranh trở về phía sự sống.
Nhưng con đường ấy không phải ai cũng đi được đến cùng. Ba người bạn Thành ích, Phiến và Quyết từng sát cánh bên nhau, đến chặng cuối chỉ còn Quyết là nguyên vẹn; Phiến đã nằm lại, còn Thành bị thương và được cáng về phía sau. Giữa đồng lúa Tuy Hòa, Quyết nhìn chiếc cáng của bạn khuất dần sau những hàng dừa rồi nghĩ đến biết bao đồng đội đã ngã xuống trên con đường mà những người còn sống đang tiếp tục đi.
Bởi vậy, được nhìn thấy đồng bằng, hàng dừa và biển không chỉ là niềm vui của những người sống sót. Trong niềm vui ấy còn có bóng dáng của những người đã không bao giờ có cơ hội nhìn thấy những gì đồng đội mình đang thấy. Một ý nghĩ đau đớn mà đẹp đẽ dần hiện lên: những người đã chết dường như đã nhận về mình một phần cái chết để những người còn lại được sống và đi tiếp. Không ai lựa chọn sự chia phần nghiệt ngã ấy, cũng không ai biết trước ai sẽ nằm xuống, ai sẽ còn đi; chỉ có người này ngã xuống, người kia bước tiếp, rồi người bước tiếp lại mang theo người đã ngã xuống trong ký ức của mình.
Cuối tác phẩm, Quyết tin rằng trận đánh phía trước sẽ là trận cuối cùng, và chính sự hy sinh của bao đồng đội trên suốt chặng đường đã qua khiến niềm tin ấy trở nên vừa tha thiết vừa nặng trĩu. Nguyễn Trọng Luân dừng câu chuyện ở đó, không cần đưa người lính tới một lễ khải hoàn hay đặt họ lên bục cao của chiến thắng. Người lính vẫn đang đi, phía trước vẫn còn một trận đánh, còn phía sau là con đường dài từ rừng ra biển với biết bao đồng đội đã nằm lại.
Và tượng đài hiện lên
Đọc hết Bình minh phía trước, một câu hỏi cứ trở đi trở lại:
Nguyễn Trọng Luân đã dựng người lính bằng cách nào?
Không phải bằng những lời ca ngợi lớn.
Không phải bằng một nhân vật hoàn mỹ.
Không phải bằng cách xóa đi sự sợ hãi, đói khát, dục vọng, sai lầm và những góc khuất của con người.
Ngược lại.

Ông để người lính được làm người trước khi làm biểu tượng.
Đó cũng chính là thử thách trong cách viết của Nguyễn Trọng Luân: trước khi trở thành biểu tượng, mỗi người lính phải được sống trọn vẹn với tư cách một con người. Thọ mắm trước hết phải được là Thọ mắm, được nhớ đến Ngọ, được hát, được sợ chết, được nói những câu rất đời; có như thế, khi Thọ nằm xuống, cái chết ấy mới thực sự khiến người đọc đau. Lộc phải từng yếu đuối thì khát vọng quay trở lại chiến đấu mới khiến người ta cảm thông; Xuân Dũng phải từng mắc sai lầm thì câu chuyện về trách nhiệm của người chỉ huy trước sinh mạng đồng đội mới có sức nặng. Và người lính cũng phải từng đói, từng thèm, từng yêu, từng tếu táo, từng chửi thề, để khi họ bước vào lửa đạn, sự dũng cảm ấy thuộc về một con người bằng xương bằng thịt, chứ không phải một hình mẫu đã được chuẩn bị sẵn.
Vì thế, có lẽ một trong những cách nói gần nhất với nghệ thuật xây dựng người lính của Nguyễn Trọng Luân trong cuốn sách này là: Ông không tạc người lính. Ông nhặt người lính. Ông nhặt một cái tên bên cạnh một cái chết, một nụ cười bên cạnh một tiếng khóc, một câu chửi bên cạnh một nỗi sợ; nhặt một mối tình, một đôi dép, một nắm cơm, một mảnh võng, một lá thư chưa gửi, một tọa độ mộ chí, một bài thơ trên ống lồ ô và cả tiếng hát bật lên từ người lính khi cái chết đã ở rất gần. Nhặt, nhặt và nhặt – cả những mảnh sáng lẫn mảnh tối, những mảnh nguyên vẹn lẫn những mảnh sứt vỡ – rồi lặng lẽ đặt chúng cạnh nhau.
Đứng thật gần, có thể chỉ thấy những mảnh đời ngổn ngang, chỗ xù xì, chỗ thô ráp, chỗ khiến người đọc bật cười, lại có chỗ đau đến không muốn nhìn lâu. Nhưng khi lùi lại một chút, bức khảm bắt đầu hiện hình: Thọ mắm bên anh Xanh, Tạ cối bên Hợi cối, Chử Thanh Phong bên thầy Thưng, Lã Thung bên Thành ích, Lộc bên Phiến, anh Túng bên “nghĩa trang bằng giấy” của hàng trăm đồng đội; và phía sau những cái tên ấy còn biết bao người đã nằm xuống mà một cuốn sách cũng không thể kể hết.

Đến lúc ấy mới nhận ra: một thế hệ đang hiện lên. Một thế hệ chưa kịp làm người lớn đã trở thành người lính, rời giảng đường, trường phổ thông, ruộng đồng, nhà máy, bến sông để mang tuổi hai mươi vào những cánh rừng Tây Nguyên. Họ đã sống và đã chết, đã yêu và đã sợ, đã hát, đã sai và sửa sai, đã cứu nhau, chôn nhau, giữ di vật cho nhau; để rồi những người còn sống tiếp tục bước trên phần đường mà đồng đội mình không còn có thể đi hết.
Nguyễn Trọng Luân không nâng những con người ấy lên cao khỏi mặt đất để biến họ thành những pho tượng xa cách. Ông để họ đứng nguyên trên đất đỏ Tây Nguyên, chân còn lấm bùn, áo còn đẫm mồ hôi, miệng có thể còn dang dở một câu chửi, trong túi vẫn còn một lá thư chưa kịp gửi. Có lẽ chính vì được đứng nguyên trên mặt đất như thế mà họ đứng rất vững – và càng lùi xa để nhìn, càng thấy họ cao lên.
Ông không dựng tượng đài.
Nhưng đến trang cuối, khi Bình minh phía trước khép lại và con đường từ những căn hầm Tây Nguyên ra đến đồng lúa, hàng dừa và biển hiện lên trong một cái nhìn ngoảnh lại, bỗng nhận ra:
tượng đài đã đứng ở đó từ lúc nào.
Và đó không phải tượng đài của một người.
Đó là tượng đài của một thế hệ.


