Chuyện Trường Cơ Điện

KỲ THIẾT BẢO – NHỮNG VÒNG DÂY KHÔNG DỨT

Bài của Vũ Ngọc Pi · Tháng 9 2, 2026 · 25 phút đọc

Có những người đi qua nhiều chặng đời nhưng không bỏ lại phía sau những gì đã từng làm nên mình. Với Kỳ Thiết Bảo, đó là cái nghề Cơ Điện, những người thầy, những người bạn, một thời lính – và cây accordion đã theo anh qua năm tháng.

Có lần, Kỳ Thiết Bảo viết trên Facebook một câu nghe như tự trào:

“Cuộc đời lỡ dính từ đầu với đống sắt thép dây điện lằng nhằng mà không dứt ra được dù có nhiều cơ hội khác, nên giờ mới ra nông nỗi này.”

“Ra nông nỗi này” là thế nào?

Là một xưởng máy ở Sài Gòn, nơi hết chiếc máy này đến chiếc máy khác được anh và cộng sự thiết kế, chế tạo: từ máy quấn dây biến áp một trục, hai trục, bốn trục; máy quấn biến áp hình xuyến; máy quấn biến áp cao áp PT, đến máy quấn và lồng dây stator, máy quấn trực tiếp stator quạt trần, máy tự động quấn dây stator động cơ Player dùng cho máy bay không người lái; rồi máy quấn magneto xe máy, máy định hình và buộc bối dây động cơ cùng nhiều thiết bị đo kiểm và cơ cấu tự động khác. Mỗi chiếc máy là một bài toán riêng, từ kết cấu cơ khí, truyền động, công nghệ quấn dây đến hệ thống điều khiển và chương trình vận hành, đều phải được tính toán, thiết kế, thử nghiệm rồi từng bước hoàn thiện.Là Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh năm 2007.

Là Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh năm 2007.

Là Giải thưởng “Nhà sáng tạo xuất sắc nhất” của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), trao cho anh với giải pháp Máy tự động quấn dây bốn trục tại Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc lần thứ 10, giai đoạn 2008-2009; lễ trao giải được tổ chức tại Hà Nội tháng 1/2010.

Nhưng nếu chỉ kể từng ấy, có lẽ vẫn chưa phải Kỳ Thiết Bảo.

Bởi phía sau người kỹ sư suốt đời “dính với đống sắt thép dây điện lằng nhằng” ấy còn có một cây accordion.

Và nhiều khi, chính tiếng đàn mới dẫn ta trở về những nơi sâu nhất trong đời anh.

“Mình tin rằng mình học ở đây mình sẽ trưởng thành được”

Kỳ Thiết Bảo sinh năm 1958. Năm 1975, anh vào học lớp K11MA, Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái.

Đó là những năm đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh. Khó khăn không phải một khái niệm để thế hệ sau hình dung; nó nằm ngay trên bàn học.

Trong bộ phim Tình người Cơ Điện, anh nhớ:

“Hai ba người mới được một bộ sách giáo khoa; thước cũng phải dùng chung. Compa, dụng cụ học tập rất là khó khăn. Nhưng mà bọn tôi đều vượt qua được hết.”

“Thước” anh nói là chiếc thước tính logarithm – thứ mà những thế hệ kỹ sư trước máy tính điện tử từng phải dùng hàng ngày.

Hai, ba sinh viên chung một bộ sách. Thước tính dùng chung. Compa cũng thiếu.

Vậy mà gần nửa thế kỷ sau, người sinh viên từng thiếu đến một chiếc compa ấy lại ngồi trước màn hình CAD, vẽ những cụm máy hàng nghìn chi tiết, thiết kế cơ cấu truyền động, hệ thống rải dây, khuôn co giãn, điều khiển servo, vi xử lý và những dây chuyền tự động phục vụ sản xuất.

Giữa hai hình ảnh ấy là cả một đời nghề.

Anh còn nhớ rất rõ ấn tượng đầu tiên về thầy Hiệu trưởng Đỗ Hữu Phú:

“Hồi ấy tôi nhìn thầy Hiệu trưởng Đỗ Hữu Phú rất là bệ vệ, rất là kính trọng; nên mình cũng thấy rất đáng yêu ngôi trường này, và mình tin rằng mình học ở đây mình sẽ trưởng thành được.”

Câu nói nghe thật giản dị.

Không phải “mình sẽ thành công”.

Không phải “mình sẽ nổi tiếng”.

Chỉ là:

“Mình sẽ trưởng thành được.”

Sau này, khi đã là giám đốc một doanh nghiệp, đã có giải thưởng, đã đứng trước những hội đồng khoa học, anh vẫn giữ cách ứng xử của một người học trò cũ. Ngày 20/11, “cũng như hàng năm”, nhóm K11M ở Sài Gòn đến thăm cô Dương Thị Thanh Lương, người từng dạy họ Tiếng Nga, Dung sai và Công nghệ Chế tạo máy từ những năm 1975. Có năm dịch Covid không đi được, anh vẫn nhắc kế hoạch đã định, vẫn gửi lời chúc cô và gia đình.

Đôi khi lòng biết ơn không cần những câu lớn.

Chỉ mấy chữ “cũng như hàng năm” đã đủ.

Từ người lính sửa súng pháo đến người làm máy

Năm 1980, Kỳ Thiết Bảo tốt nghiệp Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái rồi vào quân đội.

Sau khi tốt nghiệp năm 1980, anh vào quân đội và được học thêm về kỹ thuật. Từ đó, anh vào chiến trường Campuchia, làm đại đội phó đại đội sửa chữa súng, pháo và ô tô; sau một thời gian lại được điều lên Cục Kỹ thuật Quân đoàn 4, làm trợ lý trạm nguồn điện. Những năm tháng ấy đưa chàng kỹ sư Cơ Điện vừa rời giảng đường vào một môi trường hoàn toàn khác, nơi những kiến thức đã học phải được dùng để sửa chữa, vận hành những thiết bị phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ của đơn vị.

K11M Cơ Điện, TNUT
Kỳ Thiết Bảo trong những năm quân ngũ tại chiến trường Campuchia. Từ người lính kỹ thuật sửa chữa xe, súng pháo và trạm nguồn điện, một chặng đường làm nghề khác bắt đầu. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Đó có lẽ là một trường học khác của người kỹ sư. Ở giảng đường, một cơ cấu chưa chạy còn có thể tháo ra, tính lại rồi làm lại; nhưng ở chiến trường, một chiếc xe, một khẩu pháo hay một trạm nguồn điện hỏng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ của cả đơn vị. Những kiến thức từng nằm trong giáo trình vì thế phải bước ra đời sống, trở thành những thứ có thể sửa chữa, vận hành và phục vụ một công việc cụ thể. Có lẽ cũng từ những năm ấy, cái nghề đối với Bảo không còn chỉ là những môn học đã qua.

Nó phải chạy được.

Nhiều năm sau, khi đã là người thiết kế máy và chủ một doanh nghiệp cơ khí, anh vẫn giữ một cách nghĩ rất thực tế. Anh từng nói:

“Sản phẩm làm ra phải bán được. Nếu không thì dù sản phẩm có độc đáo đến mấy vẫn vô nghĩa.”

Đó không phải triết lý của một người chỉ làm nghiên cứu trên giấy, mà là suy nghĩ của người hiểu rằng cuối cùng một thiết bị phải bước ra khỏi bản vẽ, làm được một công việc thật và được người sử dụng chấp nhận.

Năm 1985, anh chuyển ngành, vào TP. Hồ Chí Minh làm kỹ thuật trong lĩnh vực điện cơ. Sau khoảng tám năm tích lũy kinh nghiệm, anh quyết định bước ra làm riêng. Những ngày đầu ấy còn rất xa hình ảnh của một “Nhà sáng tạo xuất sắc nhất” được WIPO vinh danh sau này: vốn ít, tài liệu kỹ thuật thiếu, linh kiện chuyên dụng lại khó tìm. Pháp Luật TP.HCM từng kể rằng trong hoàn cảnh ấy, anh đã nhiều năm lặn lội qua các khu chợ đồ cũ, lựa những linh kiện Nhật, Mỹ còn tốt mang về nghiên cứu và dùng để chế tạo máy.

Có lẽ ít ai khi ấy hình dung rằng từ những linh kiện nhặt nhạnh giữa các khu chợ đồ cũ, một hành trình chế tạo máy kéo dài hàng chục năm đang bắt đầu. Chiếc máy đầu tiên ra đời, rồi chiếc thứ hai, chiếc thứ ba; hết bài toán này lại đến bài toán khác, hết một thế hệ máy lại đến một thế hệ được cải tiến. Cuối cùng, không còn là câu chuyện của một chiếc máy nữa, mà là cả một đời làm máy.

Không phải một chiếc máy

Nếu chỉ gõ tên Kỳ Thiết Bảo trên Google, người ta dễ gặp nhất cái tên “Máy tự động quấn dây bốn trục”, bởi đó là giải pháp gắn với Giải thưởng WIPO năm 2010.

Nhưng nếu nhìn vào những gì anh đã thiết kế và Thiết Bảo đã chế tạo trong hàng chục năm, chiếc máy được WIPO vinh danh ấy chỉ là một lát cắt nổi bật trong một sự nghiệp kỹ thuật dài hơn rất nhiều.

Tài liệu giới thiệu công nghệ tại Techmart Vietnam ASEAN+3 năm 2009 đã ghi nhận hàng loạt thiết bị của Thiết Bảo ở trạng thái thương mại hóa: máy tự động quấn dây 1-2-3-4 trục; máy quấn biến áp trụ; máy quấn biến áp hình xuyến; máy quấn dây cho biến áp nhỏ, cuộn cảm; máy quấn dây đa năng; máy quấn dây dạng lá; máy quấn động cơ điện và biến áp… Nhiều thiết bị đã sử dụng inverter, động cơ bước, vi xử lý và lưu chương trình điều khiển. Có máy hình xuyến chứa tới 961 chương trình; có máy phục vụ biến áp đến hàng trăm kVA và động cơ điện công suất lớn.

Sàn Giao dịch Công nghệ TP. Hồ Chí Minh hiện cũng giới thiệu Thiết Bảo là đơn vị chuyên nghiên cứu – thiết kế – chế tạo thiết bị ngành điện cơ và tự động hóa, với các dòng máy quấn biến áp, máy quấn quạt và động cơ điện, cùng nhiều thiết bị đo kiểm cơ–điện.

Nhưng những con số ấy vẫn chưa kể hết câu chuyện.

Bởi trong xưởng Thiết Bảo, mỗi chiếc máy lại là một bài toán khác.

Có máy tự động quấn dây biến áp hai trục, dùng sản xuất hàng loạt, tốc độ tới 4.000 vòng/phút, tự động rải dây.

Có máy quấn phim – giấy bọc cách điện cho lõi mạch từ biến áp hình xuyến, loại lớn tới 450 mm. Những thiết bị ấy vẫn được anh giới thiệu trên Facebook nhiều năm sau thời kỳ nhận giải, cho thấy dòng sản phẩm tiếp tục được chế tạo và cải tiến.

Có máy quấn biến áp đo trung thế PT 35 kV cho ngành điện lực: quấn theo chương trình, tự động cấp và cắt giấy cách điện, điều khiển bằng màn hình cảm ứng, truyền động servo, khuôn quấn có khả năng co giãn để tháo cuộn dây sau khi hoàn thành.

Danh mục máy do Thiết Bảo thiết kế, chế tạo còn kéo dài: từ máy quấn biến áp nguồn tới 30 kVA, máy quấn đồng thời hai cuộn cao áp PT, đến các thiết bị phục vụ chế tạo động cơ như máy định hình bối dây stator, máy tự động buộc bối dây stator; rồi máy quấn 18 cuộn bobin phát điện xe máy, máy quấn magneto 12 cực, máy nong lỗ – lắp trục – ép định vị rotor quạt. Phạm vi thiết kế còn vượt ra ngoài những thiết bị quen thuộc của ngành điện cơ, với máy quấn dây kẽm cho súng buộc đai thép xây dựng và cả máy bơm nước sức gió.

Danh sách ấy dài đến mức nếu kể hết từng chiếc máy, người đọc có lẽ sẽ mệt. Nhưng chính cái dài ấy lại là điều đáng nói, bởi nó cho thấy sự nghiệp của Kỳ Thiết Bảo không được làm nên bởi một sáng kiến tình cờ hay một chiếc máy nổi tiếng nhờ giải thưởng. Hết bài toán này đến bài toán khác, hết loại máy này đến loại máy khác, anh đã dành hàng chục năm để làm một công việc rất cụ thể: thiết kế và chế tạo máy.

Vì thế, có lẽ gọi Kỳ Thiết Bảo là người có nhiều sáng kiến vẫn chưa thật trúng.

Điều đáng chú ý là những bài toán ấy không dừng lại ở các sản phẩm điện cơ quen thuộc như quạt điện, biến áp hay động cơ công nghiệp. Về sau, Thiết Bảo còn thiết kế, chế tạo máy tự động quấn dây stator động cơ Player dùng cho máy bay không người lái. Từ những chiếc máy quấn dây quạt bàn của buổi đầu đến thiết bị phục vụ chế tạo động cơ cho máy bay không người lái, phạm vi sản phẩm đã thay đổi rất xa; nhưng công việc của Kỳ Thiết Bảo thì vẫn vậy: gặp một bài toán công nghệ mới, lại tìm cách thiết kế một cỗ máy để giải nó.

Anh là một người thiết kế máy.

Chiếc máy theo anh gần ba mươi năm

Trong những máy ấy, có một dòng thiết bị rất đáng nhớ:

Máy tự động quấn dây biến áp hình xuyến.

Theo tư liệu anh Bảo lưu giữ, Thiết Bảo bắt đầu nghiên cứu dòng máy này từ năm 1995.

Không phải nghiên cứu một lần rồi đóng hồ sơ.

Gần ba thập niên, máy được thay đổi kết cấu, công nghệ chế tạo, vật liệu và hệ điều khiển qua nhiều thế hệ.

Năm 2007, Máy tự động quấn dây biến áp hình xuyến của kỹ sư Kỳ Thiết Bảo được trao Giải Nhất Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tấm bảng giải thưởng anh còn lưu giữ ghi rõ tên đề tài, tác giả và đơn vị là Công ty TNHH Thiết Bảo.

máy tự động quấn dây
Máy tự động quấn dây biến áp hình xuyến và KS. Kỳ Thiết Bảo tại Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật TP.HCM năm 2007. Dòng máy được Thiết Bảo nghiên cứu từ năm 1995 và liên tục cải tiến qua nhiều thế hệ. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Điều quan trọng hơn giải thưởng là những chiếc máy ấy không nằm trong phòng trưng bày.

Chúng tiếp tục đứng trong xưởng.

Tiếp tục được làm lại.

Tiếp tục bán cho khách hàng.

Tiếp tục chạy.

Đó có lẽ là sự khác biệt giữa một sản phẩm dự thi và một cỗ máy của người làm nghề.

Một chiếc máy tốt không kết thúc ở lễ trao giải.

Nó phải trở về nhà máy.

“Người Việt Nam chúng mày không làm nổi đâu”

Có một câu chuyện anh Bảo kể mà nếu không phải lời người trong cuộc, nghe rất dễ giống một giai thoại được thêm thắt sau này. Khi ấy, một chuyên gia Đài Loan nói với anh rằng người Việt Nam không làm nổi loại máy tự động quấn dây trực tiếp vào rãnh stator quạt trần. Bảo nghe mà “cay mũi”. Lời thách thức dường như chạm đúng vào lòng tự trọng nghề nghiệp của người kỹ sư; anh trở về, lao vào nghiên cứu ngày đêm, tính toán, thiết kế, thử nghiệm rồi sửa đổi, cho đến khi chiếc máy chạy được.

Và lần ấy, anh đã làm được: chiếc máy tự động quấn dây trực tiếp vào rãnh stator quạt trần đầu tiên do người Việt Nam tự thiết kế và chế tạo.

máy tự động quấn dây
Từ bản thiết kế đến chiếc máy thực tế – máy tự động quấn dây trực tiếp vào rãnh stator quạt trần do Thiết Bảo thiết kế, chế tạo. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Cái “đầu tiên” ấy không đến từ một ý tưởng bất chợt. Quấn dây trực tiếp vào rãnh stator là một bài toán phức tạp hơn nhiều so với việc cho một trục quay và quấn dây quanh bobbin; máy phải phối hợp chính xác cơ cấu đưa dây, định vị rãnh stator, kiểm soát đường đi của dây cùng chuỗi chuyển động được thực hiện lặp lại theo chương trình. Chính vì vậy, làm được chiếc máy không chỉ có nghĩa là thay thế một thao tác thủ công, mà còn đòi hỏi người thiết kế giải đồng thời những bài toán về cơ cấu, truyền động và điều khiển.

Có những bài toán khó khiến người ta chùn bước; với Kỳ Thiết Bảo, dường như càng bị bảo là không làm được, anh càng muốn tìm cách làm cho bằng được. Câu chuyện chiếc máy quấn trực tiếp stator quạt trần vì thế không chỉ đáng nhớ bởi hai chữ “đầu tiên”, mà còn cho thấy một nét rất riêng trong cách anh làm nghề: bị cái khó thách thức thì quay về với bản vẽ, với máy móc và tìm câu trả lời bằng chính sản phẩm mình làm ra.

Từ bài toán ấy, tự động hóa các công đoạn chế tạo stator dần trở thành một hướng phát triển quan trọng trong hoạt động nghiên cứu, thiết kế của Thiết Bảo. Ngày 23/3/2011, công ty báo cáo nghiệm thu dự án cấp Nhà nước thuộc Chương trình KC.05/06-10 mang tên Hoàn thiện thiết kế và công nghệ chế tạo thiết bị tự động quấn, lồng dây vào rãnh stator động cơ điện công nghiệp công suất từ 0,4 kW đến 7,5 kW. Tên đề tài cũng được ghi nhận trong danh mục công trình nghiên cứu liên quan của Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh.

K11 Cơ Điện, TNUT
Buổi nghiệm thu dự án cấp Nhà nước về thiết bị tự động quấn, lồng dây vào rãnh stator động cơ điện công nghiệp, ngày 23/3/2011. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Nhìn lại từ chiếc máy quấn dây quạt bàn năm 1994 đến hệ thống thiết bị tự động quấn và lồng dây vào stator động cơ điện công nghiệp năm 2011, có thể thấy một con đường kỹ thuật kéo dài gần hai thập niên: từ những chiếc máy chuyên dùng ban đầu đến những bài toán tự động hóa ngày càng phức tạp hơn, từ kinh nghiệm của một người làm máy đến những dự án nghiên cứu ở cấp Nhà nước.

Và con đường ấy vẫn chưa dừng lại.

Có lúc hiện đại nhất lại là… bớt hiện đại đi

Tôi đặc biệt chú ý đến một thiết kế về sau của anh: máy tự động buộc bối dây stator động cơ điện. Với chiếc máy này, Kỳ Thiết Bảo lựa chọn một phương án tưởng như đi ngược xu hướng của tự động hóa hiện đại: trở về với cơ khí. Anh chủ động không sử dụng màn hình LCD, không servo, không động cơ bước, mà tìm cách giải bài toán tự động hóa bằng một hệ cơ cấu phù hợp hơn. Theo anh, nhờ lựa chọn ấy, giá thành của máy chỉ còn khoảng một phần ba đến một phần tư so với máy nhập ngoại.

Chi tiết này nói khá nhiều về tư duy của một người đã dành hàng chục năm thiết kế và chế tạo máy. Sau những thế hệ thiết bị sử dụng vi xử lý, inverter, động cơ bước, servo và màn hình cảm ứng, anh không mặc nhiên cho rằng một chiếc máy càng nhiều điện tử thì càng hiện đại. Khi bài toán có thể được giải quyết hiệu quả bằng cơ khí, anh sẵn sàng bỏ bớt những thành phần đắt tiền để tìm một phương án đơn giản hơn, dễ sử dụng hơn và quan trọng nhất là có mức giá phù hợp với doanh nghiệp trong nước.

Bởi suy cho cùng, tự động hóa không có nghĩa là phải đưa thật nhiều công nghệ vào một cỗ máy; công nghệ tốt cũng không nhất thiết là công nghệ phức tạp nhất. Với một người làm máy như Kỳ Thiết Bảo, giá trị của thiết kế nằm ở chỗ nó giải đúng bài toán sản xuất, làm việc tin cậy và có mức chi phí mà người sử dụng có thể chấp nhận.

Đó cũng là điều xuyên suốt Thiết Bảo từ những ngày đầu. Sài Gòn Giải Phóng từng ghi nhận bốn thiết bị của đề tài quấn dây biến thế do công ty nghiên cứu có giá chưa bằng một nửa hàng nhập, trong khi năng suất được phản biện đánh giá cao hơn rõ rệt so với thiết bị cơ khí đơn thuần.

Pháp Luật TP.HCM năm 2010 cho biết, Thiết Bảo khi ấy đã chế tạo hàng trăm thiết bị tự động với hơn 30 mẫu máy; sản phẩm của công ty được báo ghi nhận là “gần như chiếm 100% thị phần trong nước”. Không chỉ các doanh nghiệp trong nước, một số doanh nghiệp nước ngoài cũng tìm đến đặt hàng, gia công.

Vì vậy, câu anh Lưu Thiết Sơn – người anh K9 – nói về Bảo nghe thật trúng:

“Trân trọng em sống bằng bộ óc và đôi tay.”

Có lẽ không cần thêm một lời khen nào nữa.

Khi cái nghề gặp một việc cần làm

Rồi Covid-19 ập đến. Trong những ngày dịch bệnh căng thẳng, khi nhiều hoạt động sản xuất phải chậm lại, Kỳ Thiết Bảo lại lao vào một bài toán khác: thiết kế, chế tạo thiết bị hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân.

Phiên bản đầu tiên của máy bóp bóng trợ thở Thiết Bảo được làm theo đúng cách anh vẫn làm máy: từ nhu cầu thực tế, thiết kế một kết cấu gọn và chắc chắn, cho máy chạy thử, đưa tới bệnh viện để bác sĩ đánh giá rồi tiếp tục sửa đổi. Thiết bị có thể sử dụng trong phòng điều trị, trên xe cứu thương, đi theo cáng bệnh nhân hoặc hỗ trợ tại nhà; có bộ ắc quy dự phòng để tiếp tục hoạt động khi mất điện, cho phép điều chỉnh nhịp bóp và lượng khí cung cấp.

Khi chiếc máy đầu tiên được chạy thử tại một bệnh viện lớn ở TP. Hồ Chí Minh, anh vẫn coi đó mới chỉ là “mẫu ra mắt”. Phải nghe bác sĩ, nghe chuyên gia, rồi làm phiên bản sau “gọn hơn, đẹp hơn, nhẹ hơn” và có trình độ kỹ thuật cao hơn. Cách nghĩ ấy chẳng khác mấy những gì anh đã làm với máy quấn dây suốt hàng chục năm: thiết kế – chế tạo – chạy thử – nghe người sử dụng – rồi lại cải tiến.

Nhưng lần này, giá trị của một cỗ máy được báo về bằng một cách rất khác. Anh ghi lại lời từ bệnh viện:

“Anh Bảo ơi, máy trợ thở anh vừa góp phần cứu 1 mạng người. Máy chạy tốt, bệnh viện đang rất cần máy này.”

K11M, TNUT
Kỳ Thiết Bảo bên máy bóp bóng trợ thở do Thiết Bảo thiết kế, chế tạo trong thời kỳ Covid-19; thiết bị được đưa vào sử dụng hỗ trợ bệnh nhân tại bệnh viện. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Anh viết tiếp:

“Nghẹn ngào, niềm vui dâng trào, phải cố gắng thôi.”

Có lẽ trong hàng chục loại máy Kỳ Thiết Bảo từng thiết kế, đây là một trong những lần anh nhận được “kết quả chạy thử” đặc biệt nhất. Không phải năng suất bao nhiêu sản phẩm một giờ, không phải độ chính xác hay giá thành so với máy nhập ngoại, mà là tin báo rằng cỗ máy mình góp sức làm ra vừa giúp cứu một con người.

Một tối tháng Giêng ở Hà Nội

Ngày 19/1/2010, tại Hà Nội, Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc lần thứ X tổ chức lễ trao giải.

Tổng Giám đốc WIPO Francis Gurry sang Việt Nam.

Giải Nhà sáng tạo xuất sắc nhất của WIPO được trao cho kỹ sư Kỳ Thiết Bảo, Công ty Thiết Bảo, TP. Hồ Chí Minh, với giải pháp:

“Máy tự động quấn dây bốn trục.”

Ngày hôm sau, anh có mặt trong cuộc tọa đàm giữa Tổng Giám đốc WIPO với các doanh nghiệp và cá nhân nhận giải thưởng WIPO.

Lễ trao giải Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật toàn quốc lần thứ X, Hà Nội, tháng 1/2010. Với “Máy tự động quấn dây bốn trục”, KS. Kỳ Thiết Bảo được WIPO trao Giải Nhà sáng tạo xuất sắc nhất. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Nếu chỉ nhìn bức ảnh ấy, người ta thấy một người đàn ông đã bước lên một sân khấu danh giá.

Nhưng phía sau bức ảnh là những khu chợ đồ cũ từng đi tìm linh kiện.

Là những chiếc máy mới “ra lò” chạy chưa êm.

Có lần máy đang biểu diễn trước khách hàng thì dây đứt, phải đem về sửa. Anh từng nói những thiết bị mới gặp sự cố ở những lần chạy đầu là chuyện bình thường; từ thiết kế đến chế tạo luôn có những chi tiết chưa “ăn rơ”, phải sửa tiếp.

Đó là thứ người ngoài nghề ít nhìn thấy.

Một cỗ máy hoàn chỉnh không sinh ra hoàn chỉnh.

Nó được làm từ những lần chưa được.

Và có lẽ một người làm máy cũng vậy.

Người lính trở lại với người lính

Năm 2010 còn có một dấu mốc khác, ít ồn ào hơn giải WIPO.

Bằng khen của Bộ Tư lệnh Hải quân mà anh lưu giữ ghi rõ: Kỳ Thiết Bảo, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Thiết Bảo, được khen vì có thành tích xuất sắc trong triển khai xây dựng các dự án trên Quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK năm 2010.

Kỳ Thiết Bảo, Cơ Điện
Kỳ Thiết Bảo được Bộ Tư lệnh Hải quân tặng Bằng khen về thành tích trong triển khai xây dựng các dự án trên Quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK năm 2010. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Năm 2010, Kỳ Thiết Bảo cùng Công ty Thiết Bảo tham gia triển khai xây dựng các dự án trên Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK. Với những đóng góp ấy, anh được Bộ Tư lệnh Hải quân tặng Bằng khen vì “đã có thành tích xuất sắc trong triển khai xây dựng các dự án trên Quần đảo Trường Sa, Nhà giàn DK năm 2010”.

Mốc ấy tạo nên một vòng nối thật đẹp trong cuộc đời anh.

Năm 1980, chàng kỹ sư Cơ Điện mới ra trường khoác áo lính, làm công tác kỹ thuật, sửa chữa xe, súng pháo và trạm nguồn điện phục vụ chiến trường Campuchia.

Ba mươi năm sau, khi đã là giám đốc một doanh nghiệp chế tạo máy, cái nghề lại đưa anh đến với những người lính – lần này ở Trường Sa và Nhà giàn DK.

Có những con đường đi rất xa rồi lại gặp nơi mình đã bắt đầu.

Rồi anh cầm cây accordion lên

Kỳ Thiết Bảo, Cơ Điện
Rời những bản vẽ, những vòng dây và những cỗ máy, Kỳ Thiết Bảo lại trở về với cây accordion – người bạn âm nhạc đã theo anh qua nhiều năm tháng. Ảnh chụp qua video trên Facebook của Kỳ Thiết Bảo.

Nếu dừng bài ở đây, Kỳ Thiết Bảo đã là một chân dung đủ đầy của một kỹ sư – doanh nhân.

Nhưng còn cây đàn.

Bố mẹ anh đều công tác trong ngành văn hóa ở Nghệ An. Cha anh, ông Kỳ Quang Lâm, Giám đốc đầu tiên của Bảo tàng Kim Liên, là người anh luôn nhắc tới với niềm tự hào. Mẹ anh chơi nhạc cụ. Em gái anh đi trọn con đường nghệ thuật và trở thành NSND Thái Bảo. Thế hệ cháu lại tiếp tục với saxophone.

Còn Bảo?

Anh chọn cơ khí, dành gần cả cuộc đời cho sắt thép, dây điện và những cỗ máy, nhưng âm nhạc thì chưa bao giờ rời anh. Bạn bè nói cây accordion đã theo anh suốt đời. Anh không thường bước lên sân khấu, cũng không coi mình là người biểu diễn; những lúc rảnh, anh thích ngồi với cây đàn và chơi những bản nhạc mình yêu.

Trên Facebook của anh có Quê em, Cây thùy dương, La Paloma, Tình ca Tây Bắc, Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây, Lời từ biệt cô gái Slavơ… Mỗi bản nhạc dường như lại chạm vào một miền ký ức.

Ngày 10/2/2024, dưới video Tình ca Tây Bắc, anh chỉ viết:

“Nhớ một thời đèn sách ở Thái Nguyên.”

Không cần kể lại chuyện K11, cũng chẳng nhắc mình đã đi đâu, làm gì trong gần nửa thế kỷ kể từ ngày ấy. Một bản nhạc đã đủ đưa người đàn ông ngoài sáu mươi trở về với chàng sinh viên K11MA của năm 1975, với một thời Cơ Điện còn thiếu sách, thiếu compa, vài người dùng chung một chiếc thước tính.

Có lần khác, anh chơi Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây rồi viết:

“Nghe lại mà nhớ một thời lính.”

Thế là từ Thái Nguyên, tiếng đàn lại đưa anh sang một quãng đời khác: những năm quân ngũ, những người đồng đội, những ngày làm kỹ thuật giữa chiến trường. Có lẽ với anh, mỗi bản nhạc cũ đều có một con đường riêng để trở về.

Khi xem anh trai chơi Прощание славянки – Lời từ biệt cô gái Slavơ, NSND Thái Bảo nhận xét:

“Vẫn tâm hồn âm nhạc thiệt!”

Anh Bảo trả lời em gái:

“Nó thấm sâu rồi khó bỏ quá em.”

K11 Cơ Điện, TNUT
Anh em Kỳ Thiết Bảo – Thái Bảo thuở trẻ. Một người đi theo kỹ thuật, một người đi theo nghệ thuật; âm nhạc thì vẫn ở lại với cả hai. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Có lẽ không thể nói về âm nhạc trong Kỳ Thiết Bảo chính xác hơn chính câu nói ấy. Anh không bảo mình “yêu nhạc”, cũng chẳng cần kể cây đàn đã theo mình bao nhiêu năm. Chỉ hai chữ “thấm sâu” đã đủ nói rằng âm nhạc không đứng bên ngoài cuộc đời anh như một thú vui lúc nhàn rỗi; nó đã trở thành một phần ở bên trong con người ấy.

Anh nhớ người

Càng đọc những gì Kỳ Thiết Bảo viết, càng lần theo những người xuất hiện trong ký ức của anh, tôi càng thấy cây accordion còn làm một việc khác: nó giữ ký ức.

Bảo là người nhớ người. Anh nhớ một cô bạn học từ lớp 4, năm 1968-1969 ở Đức Thành, Yên Thành, Nghệ An. Hơn nửa thế kỷ sau, gặp lại NSƯT Hồng Năm ở Sài Gòn, hai người vẫn có thể lôi chuyện trẻ con ngày trước ra mà “tố” nhau: ai đã vẩy mực làm bẩn áo ai. Anh còn nhớ cô bé năm ấy xinh đẹp, hát hay và có bài hát tủ Ơi con suối La La.

Anh nhớ thầy cô Cơ Điện và cùng bạn bè K11M duy trì việc đến thăm cô giáo cũ “cũng như hàng năm”. Anh nhớ những người bạn Cơ Điện đã đi cùng một đoạn tuổi trẻ. Anh nhớ đồng đội của đơn vị sửa chữa năm xưa – những người từng cùng nhau sửa trạm nguồn điện, xe, súng pháo phục vụ chiến trường Campuchia – để rồi mấy chục năm sau vẫn tìm về gặp nhau.

K11M Cơ Điện, TNUT
Kỳ Thiết Bảo trong một lần thăm cô giáo cũ. Với nhóm K11M ở Sài Gòn, thăm cô Dương Thị Thanh Lương (Dạy Tiếng Nga, Dung sai và Công nghệ Chế tạo máy) mỗi dịp 20/11 đã trở thành một nếp nhiều năm. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Và anh vẫn giữ những tình bạn mới trong cuộc sống thường ngày. Dù bận với công việc thiết kế, chế tạo và điều hành doanh nghiệp, Bảo vẫn chơi bóng bàn, tham gia câu lạc bộ, gặp gỡ, giao lưu với bạn bè. Có những cuộc gặp chẳng cần hội trường hay nghi thức nào: một bàn bóng, vài người bạn, rồi một bữa ngồi lại với nhau cũng đủ.

Anh dường như không bỏ lại những đoạn đời cũ khi bước sang đoạn đời mới. Người của lớp 4 vẫn còn đó. Thầy cô Cơ Điện vẫn còn đó. Bạn bè sinh viên, đồng đội, cây accordion và những bản nhạc cũ vẫn còn đó. Cuộc đời đi về phía trước, nhưng những người từng đi qua đời anh không vì thế mà bị bỏ lại phía sau.

Có lẽ đó cũng là lý do, trong rất nhiều video anh đăng, tiếng đàn cứ đưa anh trở về: lúc là “một thời đèn sách ở Thái Nguyên”, lúc là “một thời lính”. Với Kỳ Thiết Bảo, nhớ một bản nhạc nhiều khi cũng là nhớ một nơi chốn, một quãng đời – và nhớ những con người đã từng ở đó cùng mình.

Gặp lại những người đồng đội Tiểu đoàn 79 – Cục Kỹ thuật – Quân đoàn 4, Bình Dương, tháng 4/2023. Một thời lính đã qua, tình đồng đội còn ở lại. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Với gia đình cũng vậy. Anh thường xuyên chia sẻ trên Facebook những hình ảnh, video và các tiết mục biểu diễn của em gái – NSND Thái Bảo – với một niềm tự hào mà anh chẳng mấy khi giấu. Khi thì Mùa hoa cải, lúc Lời ru xao tím, khi lại một chương trình âm nhạc trên truyền hình. Có lần, theo em gái về Cửa Lò biểu diễn, anh vui vẻ viết: “Hai anh trai tháp tùng NSND biểu diễn ở Cửa Lò.”

Một câu đùa nhẹ nhàng, nhưng phía sau là tình cảm của người anh dành cho cô em gái đã đi trọn con đường nghệ thuật của gia đình. Thái Bảo nhìn anh trai bên cây accordion và nhận ra “vẫn tâm hồn âm nhạc thiệt”; còn anh lại dõi theo từng bước của em trên sân khấu với niềm hãnh diện rất đỗi tự nhiên.

K11M Cơ Điện, TNUT
Một cuộc gặp của những người bạn Cơ Điện sau nhiều năm. Với Kỳ Thiết Bảo, những người từng đi qua tuổi trẻ dường như không bị bỏ lại phía sau. Ảnh Kỳ Thiết Bảo cung cấp.

Có lẽ ở Kỳ Thiết Bảo, nhớ người không chỉ là nhớ về quá khứ. Đó còn là cách anh giữ những người mình quý ở bên đời sống hiện tại: tìm đến thầy cô, gặp lại bạn cũ, hội ngộ đồng đội, chơi bóng cùng bạn bè, dõi theo người thân và vui với những thành công của họ.

Thời gian đưa anh đi qua nhiều đoạn đời, nhưng dường như không đoạn đời nào bị bỏ lại phía sau.

Những vòng dây không dứt

Nhìn lại, những cỗ máy Kỳ Thiết Bảo làm nên sau này dường như không thể tách khỏi chàng sinh viên K11MA từng học trong những năm tháng thiếu thốn, khi sách giáo khoa hai ba người dùng chung, compa cũng hiếm và đến chiếc thước tính logarithm cũng phải chuyền tay nhau. Chúng cũng không tách khỏi người lính kỹ thuật từng cúi xuống những chiếc xe, khẩu súng, khẩu pháo và trạm nguồn điện ở chiến trường Campuchia. Từ những năm tháng ấy mới dần hình thành nên người kỹ sư thiết kế máy, người chủ doanh nghiệp và cuối cùng là nhà sáng tạo được WIPO vinh danh.

Nhưng nhìn suốt hành trình ấy, có một sự liên tục còn đẹp hơn cả những giải thưởng và bảng thành tích:

Không bỏ nghề cũ.
Không quên trường cũ.
Không quên thầy cũ.
Không quên bạn cũ.
Không quên đồng đội.
Và cũng không bỏ cây đàn cũ.

Bởi vậy, nếu hỏi đi qua gần một đời người, Kỳ Thiết Bảo đã mang theo những gì?, có lẽ câu trả lời không nằm ở một tấm bằng, một chiếc cúp hay số lượng những cỗ máy đã được chế tạo và bán ra. Anh mang theo cái nghề đã chọn từ tuổi trẻ, mang theo Cơ Điện và những người thầy đã dạy mình trưởng thành; mang theo bạn bè, đồng đội và một thời lính; mang theo những ký ức không nỡ để rơi lại phía sau, cùng cây accordion và những giai điệu đã theo mình qua năm tháng.

Lạ thay, tất cả những điều ấy lại gợi đến chính những vòng dây trong những cỗ máy anh đã dành phần lớn cuộc đời để thiết kế: vòng này nối vòng kia, lớp này tiếp lớp khác, đi mãi mà vẫn quấn quanh một cái lõi ở giữa.

Với Kỳ Thiết Bảo, cái lõi ấy có lẽ là tình người và cái nghề. Cái nghề khiến anh nghĩ, làm, thử rồi sửa để tạo ra những cỗ máy của người Việt; còn tình người khiến anh nhớ, tìm về và giữ bên mình những con người đã cùng đi qua từng đoạn đời. Hai thứ tưởng khác nhau ấy cuối cùng lại gặp nhau ở một điểm: đều đã thấm sâu rồi khó bỏ.

Ngày trước, chàng sinh viên K11MA nhìn thầy Hiệu trưởng Đỗ Hữu Phú với lòng kính trọng và tin rằng học ở Trường Cơ Điện rồi mình “sẽ trưởng thành được”. Gần nửa thế kỷ sau, có lẽ niềm tin của chàng trai năm ấy không cần được trả lời bằng lời nữa. Những cỗ máy anh làm ra đã trả lời; những người thầy, người bạn, người đồng đội vẫn còn ở bên đã trả lời.

Và đâu đó trong một căn phòng ở Sài Gòn, khi người kỹ sư rời những bản vẽ, những vòng dây và những cỗ máy để lại ôm cây accordion lên, tiếng đàn cũng trả lời.

VỀ NGUỒN TƯ LIỆU

Bài viết được hình thành từ nhiều tư liệu, trong đó có những ghi chép trực tiếp từ anh Kỳ Thiết Bảo về thời sinh viên K11MA Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái, những năm quân ngũ, quá trình làm nghề, thiết kế và chế tạo máy; cùng các bài viết, hình ảnh, video và những trao đổi anh lưu lại trên trang Facebook cá nhân.

Một nguồn tư liệu quan trọng khác là phim Tình người Cơ Điện, trong đó anh Bảo trực tiếp kể về những năm tháng học tập còn nhiều thiếu thốn và ấn tượng sâu sắc đối với thầy Hiệu trưởng Đỗ Hữu Phú. Bài viết cũng sử dụng những hồi ức, nhận xét và trao đổi của bạn bè, đồng đội, người thân của anh, trong đó có anh Lưu Thiết Sơn, chị Lê Kim Loan và NSND Thái Bảo.

Bài viết có tham khảo các báo như Sài Gòn Giải Phóng, Pháp Luật TP. HCM, Nhân Dân, các nguồn của VIFOTEC/WIPO, Sàn Giao dịch Công nghệ TP.HCM – Techport/CESTI và tài liệu Giới thiệu công nghệ và thiết bị có thể chuyển giao tại Techmart Vietnam ASEAN+3 năm 2009.

Xin trân trọng cảm ơn anh Kỳ Thiết Bảo cùng những người thân, thầy cô, bạn bè và đồng đội đã lưu giữ, chia sẻ những tư liệu quý để câu chuyện về một người Cơ Điện và một đời làm nghề có thể được kể lại.

Chia sẻ: Facebook Zalo
Vũ Ngọc Pi

Vũ Ngọc Pi

Gần năm mươi năm ở đất Thái, tôi may mắn được gặp nhiều người thầy, người thợ, người nghệ nhân và những con người bình dị đã dành cả cuộc đời để giữ lửa cho mái trường, quê hương và nghề nghiệp. Tôi chỉ làm một việc rất nhỏ: kể lại những câu chuyện của họ bằng tất cả lòng biết ơn.

Đọc tiếp

Mỗi tuần, một ngọn lửa được trao đi

Nếu câu chuyện này chạm được đến bạn, hãy để lại email — mỗi bài viết mới của Giữ lửa nghề sẽ tìm đến bạn. Không quảng cáo. Không thư rác. Chỉ có những câu chuyện được viết bằng sự trân trọng.

Để lại email. Cùng giữ một ngọn lửa.

Bạn có thể rời danh sách bất cứ lúc nào. Địa chỉ email chỉ được dùng để gửi bài viết mới từ Giữ lửa nghề.