Chuyện về Đội văn nghệ Trường Đại học Cơ Điện những năm 1970
Có một bức ảnh đen trắng đã đi qua gần nửa thế kỷ.
Bên trái, Nguyễn Văn Độ K10 ôm chiếc accordion. Ở giữa, cô gái tóc dài Lê Kim Loan K11 đang hát. Phía sau chị, Vũ Thế Hằng K10 giữ cây guitar. Bên phải là Đào Bá Văn – K5, đi bộ đội rồi trở về học cùng K9.
Bốn người đều rất trẻ.
Không ai trong khoảnh khắc ấy biết rằng rồi đây mỗi người sẽ đi một con đường dài đến thế nào. Văn trở thành kỹ sư, nhiều năm gắn bó với cộng đồng Cơ Điện Quảng Ninh rồi ra đi trước bạn bè. Loan về Đà Nẵng, làm việc trong ngành điện. Hằng đi qua một đời nghề nghiệp nhưng cây đàn vẫn ở bên mình.
Còn trong tấm ảnh, thời gian dường như không chạy.
Độ vẫn đặt tay trên phím đàn.
Hằng vẫn ôm guitar.
Loan và Văn vẫn đang hát.

Không còn đủ tài liệu để viết một lịch sử chính thức của Đội văn nghệ Trường Cơ Điện những năm 1970. Không còn sổ chương trình của từng hội diễn. Bản thu thanh năm ấy chưa tìm lại được. Và chắc chắn còn nhiều cái tên, nhiều tiết mục mà ký ức của nửa thế kỷ không thể giữ nguyên vẹn.
Nhưng những gì còn lại lại đủ để kể một câu chuyện khác.
Một câu chuyện nhỏ hơn lịch sử.
Và có lẽ sâu hơn lịch sử.
Đó là câu chuyện về một thế hệ Cơ Điện đã học, đã hát, đã ra trận, đã trở về – rồi lại hát.
Trước khi có một đội văn nghệ, đã có tiếng đàn
Tháng 9 năm 1969.
Những sinh viên K5 vừa tìm đến Trường Cơ Điện giữa một vùng đồi còn ngổn ngang thiếu thốn. Trong một bài viết được lưu lại từ cuộc thi Những ký ức đi cùng năm tháng năm 2020, một sinh viên nhớ rằng từ căn phòng bên cạnh có tiếng guitar. Một thầy giáo đang hát bài về Bác Hồ. Chiều xuống, các thầy lại ngồi bên nhau, chơi đàn và hát những bài hát Nga.
Người chơi guitar được nhớ tên là thầy Nguyễn Trần Nhu, giảng viên Toán.
Chi tiết ấy nhỏ đến mức có thể dễ dàng bị bỏ qua.
Nhưng hơn nửa thế kỷ sau nhìn lại, nó nói được nhiều điều.
Giữa một ngôi trường còn thiếu đủ thứ, người ta vẫn tìm được một cây đàn.
Và người ta hát.
Nguyễn Trọng Luân K5 còn giữ một ký ức khác. Khi những sinh viên K5 mới vào trường, họ ngạc nhiên nhìn các anh chị K2 khoác tay nhau đi giữa rừng và hát vang. K2 khi ấy là một khóa đặc biệt, hoạt động phong trào và văn nghệ rất mạnh.
Có lẽ vì thế, đội văn nghệ rực rỡ của những năm sau không xuất hiện từ khoảng trống.
Nó lớn lên từ một ngôi trường đã quen có tiếng hát trong đời sống của mình.
Những năm 1970-1971, hội diễn văn nghệ toàn trường được tổ chức hằng năm. Chương trình nhiều đến mức phải kéo dài hai đêm. Từ khu K5 tới hội trường K2F hơn ba cây số đường đồi, hàng trăm sinh viên vẫn nườm nượp đi xem. Trên đường gặp K3, K4 cũng đang kéo tới. Có đêm hơn nghìn người ngồi trên đồi bạch đàn.
Có đơn ca.
Có tốp ca, đồng ca.
Có độc tấu.
Có kịch nói và cả tấu hài.
Cuộc sống sinh viên khi ấy nghèo đến mức hôm nay kể lại nghe như chuyện của một thời rất xa. Cơm có bánh tát, bo bo. Nồi canh rau muống loãng đến mức chị Lê Kim Loan K11 sau này nhớ vui là “như cái ao làng”. Mùa đông Thái Nguyên có những ngày rét cắt da.
Nhưng điều kỳ lạ là khi nhớ lại tuổi trẻ Cơ Điện, chị Loan bảo những cái đói, cái rét ấy dường như lùi hết về phía sau.
Điều còn lại rõ hơn lại là tiếng guitar văng vẳng trong những đêm trăng, là giọng Nguyễn Trọng Luân hát Sông Đăkrông mùa xuân về từ dãy ký túc xá nam vọng sang tận khu nữ.
Nghèo thì rất nghèo.
Nhưng tuổi trẻ hình như vẫn có cách làm cho đời sống của mình trở nên giàu có.
Một trường kỹ thuật, giữa những năm tháng còn gian khó, lại có một đời sống văn nghệ đầy sức sống đến như vậy.
Và tiếng hát không chỉ ở lại trên sân khấu.
Tháng 8 năm 1971, khi lũ lụt xảy ra ở Phú Bình, đội văn nghệ đi tới xã Lương Sơn biểu diễn cho lực lượng chống lụt và bộ đội đang huấn luyện chuẩn bị đi B. Tốp ca nam hát Con cua đá. Anh Mão K5 hát Thái Văn A đứng đó. Anh Minh K5MB hát Lỳ và Sáo. Bùi Việt Thanh K5ME múa Em bé câu cá.
Một tháng sau, giữa trận lũ lớn ở đồng bằng sông Hồng, đội lại có một đêm biểu diễn phục vụ lực lượng chống lũ tại ga Yên Viên với những ca khúc như Tiếng hát những đêm không ngủ, Xe ta đi trong đêm Trường Sơn, Chào em cô gái Lam Hồng…
Nhiều năm sau, trong Trường ca Cơ Điện sẽ có câu:
“Xông pha trong nước lũ lụt cứu dân.”
Đó không phải một câu hát được nghĩ ra để làm đẹp cho lịch sử.
Thầy và trò Cơ Điện đã thực sự đi qua những ngày như thế.
Đêm 30 tháng 5
Rồi chiến tranh bước thẳng vào giảng đường.
Năm 1972, khoảng hai trăm sinh viên của hai khoa Cơ khí và Điện khí hóa lên đường nhập ngũ.
Nguyễn Trọng Luân nhớ rất rõ đêm 30 tháng 5 năm ấy.
Những người sắp đi lính ra quán Ông Già, bên Quốc lộ 3, gần lối ra ga Lưu Xá. Họ uống trà và hát với nhau suốt đêm.
Trăng sáng.
Trời từ nóng nực chuyển dần sang man mát, rồi lành lạnh khi gần sáng. Những chàng sinh viên dựa lưng vào gốc mít, gốc khế, hút thuốc và hát.
Anh Luân nhớ một điều rất lạ:
chỉ những người sắp đi lính hát; những người ở lại ngồi nghe.
Trong số những người hát có Đào Bá Văn.
“Bạn tôi, Đào Bá Văn người Quảng Ninh hát hay lắm”, anh Luân viết.
Văn hát Quán nửa khuya.
Lương Công Thu K6 hát Hết hè.
Có những bài thời ấy họ chỉ dám hát truyền miệng. Nhưng trong một đêm chia tay, điều quan trọng không còn là một bài hát được xếp vào dòng nhạc nào. Điều quan trọng là nó nói hộ điều những chàng trai sắp ra trận không biết nói với nhau ra sao.
Đến một đoạn, anh Luân nhớ rằng đứa nào cũng lau nước mắt.
Nhưng tiếng hát không dừng lại ở quán Ông Già.
Sau bốn tháng huấn luyện tại Thượng Đình, Phú Bình, những sinh viên khoác áo lính vẫn tổ chức văn nghệ từ trung đội đến đại đội. Trong đơn vị có hơn năm mươi sinh viên Trường Cơ Điện. Vũ Đình Thiệp, sinh viên năm thứ tư Chế tạo máy, chơi accordion rất cừ. Nguyễn Trọng Luân trở thành một trong những giọng đơn ca nổi bật.
Tháng 12 năm 1972, trong một đợt dã ngoại ở rừng Trại Cau, họ tổ chức một đêm văn nghệ ngay giữa tiếng bom B52.
Bom rung.
Đạn nổ.
Và người ta vẫn hát.
Nguyễn Trọng Luân hát Hát mừng các cụ già bắn rơi máy bay, rồi hát tiếp Trên đỉnh Trường Sơn ta hát – bài hát anh vừa đọc được trên số tháng 9/1972 của tạp chí Văn nghệ Quân đội, tờ tạp chí vẫn nằm trong ba lô người lính sinh viên.
Ngày 14 tháng 1 năm 1973, họ chính thức lên đường vào chiến trường.
Đêm chia tay ở ga Lương Sơn, hơn năm trăm chiến sĩ ngồi trong sương trắng nghe đội tuyên văn Sư đoàn 304B biểu diễn. Vũ Đình Thiệp – người sinh viên Cơ Điện chơi accordion – được giữ lại bổ sung cho đội tuyên văn của Sư đoàn.
Còn những người khác đi tiếp.
Một trăm ngày trên đường Trường Sơn.
Ba lô nặng.
Dốc cao.
Có những người phải chống gậy mà đi.
Nhưng mỗi khi dừng quân đủ lâu, văn nghệ lại được tổ chức. Người hát. Người đọc thơ. Những bài thơ được viết trên vỏ bao thuốc, trên những mảnh giấy vụn, rồi tối đến chép lại thành một tập Thơ trên đường hành quân.
Trong những đêm ấy có Nguyễn Trọng Luân, Vũ Đình Khang, Nguyễn Mạnh Tiêu, Ngô Thịnh và những sinh viên Cơ Điện khác.
Anh Luân nhớ rất giản dị:
Những bài hát trên đường hành quân có sức động viên ghê gớm với người lính đang lặc lè leo dốc.
Có lẽ đến đây ta mới hiểu đầy đủ hơn câu chuyện của đêm 30 tháng 5.
Những chàng trai Cơ Điện đã mang tiếng hát từ quán nước bên đường số 3 vào quân ngũ.
Rồi từ quân ngũ, họ mang nó lên Trường Sơn.
Cây đàn có thể không đi hết con đường.
Nhưng bài hát thì có.
Nguyễn Trọng Luân sau này kể một câu chuyện khác, có cái tên rất lính: “Ào ào Bích Liên”.
Bốn năm ở chiến trường Tây Nguyên, anh gần như không được xem văn công. Nhưng cũng chính ở nơi sống chết ấy, anh hiểu người lính cần tiếng hát đến nhường nào.
Họ có thể chưa từng nhìn thấy mặt những ca sĩ như Bích Liên, Thanh Lịch, Hoài Thu, nhưng vẫn thuộc giọng hát, nhớ tên và kể cho nhau nghe những câu chuyện về họ. Một câu hát gắn với Bích Liên thậm chí đi vào tiếng lóng của lính thành “ào ào Bích Liên” – cứ thế mà làm, mà đi, có khi mà xông lên giữa bom đạn.
Có người lính tên Đấu từng nói: nếu hòa bình, nếu được trở về, anh sẽ tìm gặp Bích Liên – chỉ để được nghe chị hát.
Đấu không về.
Anh hy sinh trên đường 7 Cheo Reo tháng 3 năm 1975.
Có lẽ chỉ những người từng sống trong hoàn cảnh ấy mới hiểu hết vì sao một thế hệ lại quý tiếng hát đến vậy.
Nó không chỉ để vui.
Có lúc, tiếng hát là phần bình thường cuối cùng người ta còn giữ được giữa những điều quá đỗi không bình thường.
Và rồi chiến tranh đi đến ngày cuối cùng.
Sáng 1 tháng 5 năm 1975, chỉ một ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, tại Trường Trung học Lê Quý Đôn nằm gần Dinh Độc Lập, Nguyễn Trọng Luân thay mặt những người lính của trung đoàn nói chuyện với thầy cô, học sinh và sinh viên Sài Gòn.
Rồi người lính Cơ Điện ấy hát.
Bài anh chọn là Tiếng hát những đêm không ngủ.
Ba năm trước, Luân còn là chàng sinh viên hát trong những đêm văn nghệ trước ngày ra trận.
Anh đã hát giữa tiếng bom B52 ở Trại Cau.
Đã hát trên những chặng dừng chân của Trường Sơn.
Và sáng hôm ấy, anh hát giữa một Sài Gòn vừa im tiếng súng.
Trong đoàn đáng lẽ còn có Nguyễn Mạnh Tiêu, một sinh viên Cơ Điện khác từng hát cùng anh trên đường hành quân. Nhưng Tiêu bị thương trên đường tiến vào Sài Gòn và phải nằm lại phía sau.

Có những thời khắc lịch sử được nhớ bằng những bức ảnh lớn.
Còn với một người Cơ Điện, lịch sử đôi khi được nhớ bằng một bài hát mình đã hát ở đúng nơi, đúng ngày ấy.
Mấy cây đàn của K10MC
Trong khi Luân, Văn và nhiều sinh viên Cơ Điện còn ở chiến trường, một câu chuyện khác bắt đầu ở trường.
Tháng 10 năm 1974, K10 nhập học.
Thật tình cờ, một số chàng trai mê âm nhạc lại tụ về đúng một nơi: lớp K10MC.
Nguyễn Văn Độ từ Nam Định lên. Ở quê, Độ từng chơi trong ban nhạc nhà thờ. Và anh mang theo một thứ mà với sinh viên thời ấy gần như là cả một gia tài: một cây accordion.
Nhưng Độ không chỉ là người chơi đàn. Anh biết violin, guitar đệm, biết viết nhạc, phối bè và có thể sáng tác những ca khúc nhỏ. Khả năng ấy sau này trở nên đặc biệt quan trọng khi ban nhạc K10MC tham gia những chương trình lớn của Nhà trường.
Nguyễn Văn Chính – Chính “tơ” từ Hà Nội và Vũ Thế Hằng – Hằng “mèo” từ Lai Châu đều có guitar riêng. Hằng còn chơi mandolin khá. Rồi Đoàn Đức Chính – Chính “béo”, còn gọi Chính “đen” – chơi guitar bass.
Không có lễ thành lập.
Không có quyết định.
Một ban nhạc sinh viên cứ thế mà ra đời.
Ban đầu chỉ là mấy chàng trai chơi với nhau vì mê nhạc. Nhưng chẳng bao lâu, tiếng đàn K10MC đã vượt khỏi căn phòng của họ.
Chính “tơ” là một cây guitar thực sự nổi bật. Có những buổi anh ngồi trên tầng hai nhà A3 độc tấu, ngoài hành lang rồi dưới sân, cả phía trước lẫn phía sau tòa nhà, sinh viên các khóa kéo đến đứng nghe. Vũ khúc Tây Ban Nha, Bài ca hy vọng, Cô gái vót chông… có những bản Chính chơi đi chơi lại nhiều lần mà người nghe vẫn đông.
Khi Chính chơi solo, Hằng “mèo” đệm guitar, Chính “béo” giữ guitar bass, một ban nhạc nhỏ K10MC thành hình. Họ chơi nhạc Việt Nam, nhạc Nga, những giai điệu Cuba và quốc tế đang được tuổi trẻ thời ấy yêu thích. Có Chiều Moskva, Tình ca du mục, La Paloma, Siboney… và cả những ca khúc của The Beatles – ban nhạc đang làm say mê thanh niên trên khắp thế giới trong những năm 1960-1970.
Những giai điệu ấy vang trong ký túc xá, trên hành lang, ngoài sân trường. Người chơi đàn là sinh viên Cơ Điện. Người đứng nghe cũng là sinh viên Cơ Điện.
Suốt những năm K10MC học ở trường, ban nhạc nhỏ ấy trở thành một phần của đời sống sinh viên. Nhiều khóa sau vẫn còn nhắc đến họ.
Điều đáng nói là tất cả bắt đầu rất tự nhiên.
Không có lễ thành lập.
Không có quyết định.
Chỉ có vài chàng trai, mấy cây đàn và một đám đông mỗi chiều lại tìm đến nghe.
Một ban nhạc sinh viên cứ thế mà ra đời.
Và rồi những người làm công tác phong trào của Nhà trường bắt đầu nhận ra sức hút ấy.
Từ một nhóm bạn chơi đàn vì mê nhạc, K10MC dần trở thành hạt nhân nhạc công của Đội văn nghệ Trường Cơ Điện.
Người đứng ra gom những hạt nhân ấy lại là thầy Nguyễn Thái.
Thầy là cựu sinh viên K2M, sau ở lại trường giảng dạy Công nghệ Chế tạo máy, tham gia Ban Chấp hành Đoàn trường và được giao phụ trách văn nghệ. Sinh viên gọi thầy là “Thái cận”, rồi thân mật hơn nữa: “ông bầu” của Đội văn nghệ.
Khi ấy thầy còn rất trẻ, chưa lập gia đình, gần gũi với sinh viên. Thầy thường xuyên xuống với ban nhạc K10MC, đưa guitar và mandolin của Nhà trường cho sinh viên sử dụng, lên lịch tập mỗi khi có hội diễn, hoạt động ngoại khóa hay những đợt lao động xã hội chủ nghĩa. Nhưng có nhạc công thôi chưa thành một đội văn nghệ. Thầy còn đi các khóa tìm những giọng hát hay, kéo họ về với ban nhạc sinh viên.
Từ những cây đàn tự phát của K10MC, dưới bàn tay kết nối của thầy Thái, một Đội văn nghệ lớn của Trường Cơ Điện dần thành hình.
Nhiều năm sau, khi đã rời Trường, mối gắn bó của thầy với cộng đồng Cơ Điện vẫn không dứt. Thầy từng là Hội trưởng Hội Cơ Điện thành phố Hà Nội, tiếp tục đứng giữa những người Cơ Điện theo một cách khác: không còn gọi sinh viên vào buổi tập, mà kết nối những con người đã đi qua mái trường ấy trong cuộc sống sau này.
Có lẽ đó cũng là một dạng giữ lửa.
Thời trẻ, thầy giữ cho tiếng đàn không tắt.
Về sau, thầy giữ cho những người Cơ Điện không rời nhau.
Những người lính trở về
Cuối năm 1975, những sinh viên – người lính còn sống bắt đầu trở lại trường.
Trên đường từ miền Nam ra Bắc, đầu tháng 11 năm ấy, Nguyễn Trọng Luân gặp lại Đào Bá Văn và những người lính Cơ Điện bên sông Hàn, Đà Nẵng.
Đêm ấy, họ lại hát Quán nửa khuya.
Nhưng đội hình của đêm 30 tháng 5 năm 1972 đã khuyết.
Lương Công Thu không còn.
Nhiều người khác cũng không còn.
Anh Luân viết về những người lính Cơ Điện hát bằng giọng còn mang sốt rét, vừa cười vì ngày mai có thể trở lại giảng đường, vừa khóc vì những người bạn không bao giờ về nữa.
“Chúng tôi khóc bên bờ sông Hàn. Nước mắt ngày gặp mặt sau chiến tranh.”
Rồi họ trở về Thái Nguyên.
Và lại hát.
Đào Bá Văn – K5, đi bộ đội rồi về học cùng K9 – trở thành một trong những giọng đơn ca của đội. Bài tủ của anh là Đảng là cuộc sống của tôi.
Nguyễn Trọng Luân – K5, về học cùng K9 – hát Sông Đăkrông mùa xuân về.
Năm 1975, Lê Kim Loan vào K11.
Giọng hát của cô sinh viên mới nhanh chóng được chú ý. Trong trường, mọi người gọi chị là “Loan hát” – vừa bởi chị hát rất hay và hay hát, vừa để phân biệt với một cô Loan khác của K11 nổi tiếng với bóng bàn.
Đó cũng đúng vào những tháng ngày đất nước vừa thống nhất. Những ca khúc mới như Như có Bác trong ngày vui đại thắng, Đất nước trọn niềm vui, Đoàn tàu mùa xuân đang đi vào đời sống. Theo ký ức của những người cùng thời, nhiều sinh viên Cơ Điện thuộc những bài hát ấy rất nhanh, một phần bởi chúng thường xuyên vang lên qua giọng Loan trong các chương trình của Trường.
Rồi Hò biển trở thành một trong những tiết mục gắn với chị và K11.
Phần nhạc có Nguyễn Văn Độ với accordion; Nguyễn Văn Chính – Chính “tơ” – với guitar; Vũ Thế Hằng với guitar, mandolin; Đoàn Đức Chính với guitar bass…
Những người từng cần một tiếng hát giữa chiến trường giờ đứng bên những người bạn trẻ K10MC.
Một đội văn nghệ rất đặc biệt hình thành từ đó:
có người vừa từ chiến tranh trở về; có người vừa rời ghế phổ thông; có thầy giáo từng là sinh viên K2; có những cây đàn từ nhiều miền đất mang về.
Và tất cả gặp nhau trên sân khấu Cơ Điện.
“Trong gian khó trường ta vẫn lớn lên từng ngày”
Năm 1975, Trường Cơ Điện tròn mười năm.
Nhạc sĩ Đàm Thanh sáng tác Trường ca Cơ Điện – một tác phẩm kể lại chính chặng đường mười năm đầu của Nhà trường.
Và lần này, Đội văn nghệ Cơ Điện làm một việc lớn hơn những tiết mục thường ngày.
Một dàn hợp xướng gần một trăm người được tập hợp.
Ca sĩ Quang Hưng được mời lên trường, ăn ở ngay tại trường để trực tiếp dàn dựng hợp xướng. Những giọng hát của các khóa đứng thành một khối; ban nhạc sinh viên tham gia đệm.
Người cầm que đứng trước dàn hợp xướng là Đào Bá Văn – chàng sinh viên ba năm trước từng hát Quán nửa khuya trong đêm chia tay bạn bè để vào chiến trường.
Người hát lĩnh xướng là Nguyễn Trọng Chiến, một người lính trở về học cùng K10MC, có chất giọng khỏe và từng được sinh viên Cơ Điện nhớ tới qua những bài hát vang vọng một thời như Dáng đứng Việt Nam, Đoàn tàu thống nhất…
Phía sau họ là gần một trăm tiếng hát.
Trong đó có thầy Nguyễn Thái và những thành viên nòng cốt của Đội văn nghệ.
Gần một trăm tiếng hát, nhưng ban nhạc đệm chỉ có bốn cây đàn: accordion, guitar, mandolin và violin.
Làm thế nào để bốn nhạc cụ ấy nâng được một dàn hợp xướng lớn đến vậy?
Nguyễn Văn Độ nhận phần việc khó. Anh viết phần nhạc riêng cho từng bè accordion, guitar, mandolin và violin, rồi trực tiếp điều hành ban nhạc tập để bốn bè khớp với nhau và khớp với hợp xướng.
Guitar có Nguyễn Văn Chính. Mandolin là Vũ Thế Hằng. Accordion do chính Độ đảm nhiệm. Violin là thầy Nguyễn Hùng, Bộ môn Vật lý. Công việc chuyên môn khiến thầy Hùng không thể có mặt thường xuyên trong các buổi tập, nhưng mỗi khi đến ghép, tiếng violin của thầy nhanh chóng hòa vào phần nhạc chung.
Chỉ bốn cây đàn. Nhưng phía sau chúng là những bè nhạc đã được viết riêng và những buổi tập để từng tiếng đàn tìm đúng chỗ của mình trong gần một trăm tiếng hát.
Và rồi Trường ca Cơ Điện cất lên.

Nếu phải tìm một khoảnh khắc mà đời sống của một ngôi trường và tiếng hát của những con người trong đó nhập vào nhau, có lẽ chính là lúc ấy.
Bởi họ không chỉ hát về Trường.
Họ đang hát về những gì chính mình vừa đi qua.
“Nhớ những ngày bom rơi máu rơi
Trong gian khó trường ta đã ra đời…”
Rồi:
“Trong gian khó trường ta vẫn lớn lên từng ngày.”
Có những năm sơ tán.
Có những “túp lều bên suối”.
Có “đầm ta lấp, núi ta san”.
Có mồ hôi của thầy trò trên nền trường.
Có những ngày chống lũ.
Có những lớp sinh viên từ giảng đường đi vào chiến tranh rồi lại trở về.
Và lúc này, ngay trước gần một trăm người đang hát, người cầm que chỉ huy dàn hợp xướng cũng chính là một người lính vừa trở về.
Có lẽ vì thế, Trường ca Cơ Điện không chỉ là một bài hát về mái trường.
Nó giống như ký ức mười năm đầu của Cơ Điện được cất lên thành tiếng.
Dàn hợp xướng sau đó được Đài Phát thanh Khu Tự trị Việt Bắc (cơ quan tiền thân của Đài Phát thanh và Truyền hình Thái Nguyên ngày nay) ghi âm và phát sóng. Theo ký ức của người trong cuộc, nhạc sĩ Đỗ Minh trực tiếp chỉ đạo thu thanh. Điều kiện kỹ thuật khi ấy còn rất hạn chế; vị trí nhạc cụ, vị trí người hát đều phải tính toán, điều chỉnh để có được bản ghi tốt nhất.
Bản ghi năm ấy đến nay chưa tìm lại được.
Nhưng một điều rất đẹp đã xảy ra nhiều chục năm sau.
Khi Nhà trường muốn khôi phục Trường ca Cơ Điện, chính thầy Nguyễn Thái – người từng đứng trong dàn hợp xướng năm 1975 – đã giúp gọi lại tác phẩm từ ký ức. Sau đó, dưới thời cố Hiệu trưởng Phan Quang Thế, bài được dàn dựng lại nhân dịp kỷ niệm 50 năm truyền thống Nhà trường, với phần biểu diễn của Đăng Huy – Bùi Trang – Trung Hiếu.
Bản băng cũ có thể đã mất.
Nhưng bài hát không mất.
Bởi có những thứ được lưu bằng băng từ.
Và có những thứ được lưu bằng con người.
Một thời rực rỡ
Năm 1976, Đội văn nghệ Trường Cơ Điện tham gia Hội diễn văn nghệ các trường đại học và trung học chuyên nghiệp tại Thái Nguyên. Trong đội hình được nhớ lại có Nguyễn Văn Độ với accordion, Vũ Thế Hằng với mandolin, Nguyễn Văn Chính với guitar, Đào Bá Văn và Lê Kim Loan với những giọng hát.
Một bức ảnh khác còn lưu lại thầy Đỗ Hữu Phú, cán bộ Công đoàn, Bí thư Đoàn trường, thầy Nguyễn Thái cùng các thành viên đội văn nghệ: Nguyễn Trọng Luân, Đào Bá Văn, Nguyễn Văn Độ, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Trọng Chiến, Lê Kim Loan…
Những người quản lý Nhà trường.
Những thầy giáo.
Những sinh viên.
Những người từng đi qua chiến tranh.
Tất cả đứng trong một khuôn hình.

Nhiều người từng sống trong thời ấy nhớ đây như một thời kỳ đặc biệt rực rỡ của văn nghệ Cơ Điện.
Nhưng hôm nay, có lẽ cũng không cần phải chứng minh đó có phải là thời kỳ rực rỡ nhất của văn nghệ Nhà trường hay không.
Điều đáng nhớ hơn những so sánh là sức sống của nó.
Một đội văn nghệ đủ sức tập hợp nhiều khóa.
Có ban nhạc.
Có những giọng đơn ca, tốp ca, đồng ca và dàn hợp xướng.
Và có cả đội múa.
Trong một bức ảnh mới tìm lại được, những nam nữ sinh viên K11 đang biểu diễn một tiết mục múa trên sân khấu. Phông phía sau vẫn mang những hình ảnh rất đặc trưng của thời đại: nhà máy, cột điện, chân dung Bác Hồ. Những chàng trai trong trang phục sẫm màu, những cô gái trong tà áo dài sáng màu, cùng tạo thành một đội hình biểu diễn được dàn dựng khá công phu.

Có những sân khấu được làm nên bằng những thứ rất nhỏ.
Chị Loan còn nhớ một lần K11 đi hội diễn văn nghệ sinh viên khu vực Thái Nguyên. Mấy anh trong ban nhạc khoác những chiếc áo đại cán quen thuộc của sinh viên Cơ Điện, ôm guitar đi cùng các em K11.
Đội nghèo đến mức chiếc áo dài của nữ sinh hát chính cũng phải đi mượn. Cô Hoàng Thị Chiến – giảng viên của Trường, từng học ở Bulgaria – đã cho mượn chiếc áo dài để sinh viên bước lên sân khấu. Một chiếc áo mượn, dưới ánh đèn hôm ấy, lại góp phần làm nên thành công của tiết mục Đất nước trọn niềm vui. Tiết mục sau đó được công diễn và phát trên Đài phát thanh Khu Tự trị Việt Bắc.
Những người trẻ ấy không có nhiều phương tiện để làm nghệ thuật.
Thứ họ có nhiều nhất là sự say mê.
Có những tiết mục được dàn dựng bằng rất ít phương tiện, nhưng bằng rất nhiều say mê.
Có một Hò biển do chính sinh viên K11 tự nghĩ, tự dựng, tự diễn – và khiến chính nhạc sĩ Nguyễn Cường, tác giả ca khúc, tìm vào tận hậu trường để chuyện trò, góp ý.
Có một Đất nước trọn niềm vui mà chiếc áo dài của người hát chính cũng phải đi mượn, nhưng rồi tiết mục ấy còn được công diễn và phát trên Đài Phát thanh.
Và trước đó, có cả một Trường ca Cơ Điện với gần một trăm người hát và đệm đàn, được thu thanh và phát sóng.
Nhưng có lẽ điều đáng nhớ hơn cả không nằm ở những sân khấu ấy.
Tiếng hát, tiếng đàn, điệu múa của người Cơ Điện đã đi ra khỏi sân khấu – đi vào đời sống, theo họ đến những nơi chống lũ, lên đường hành quân, vào chiến trường và sau này lại tới những chiến hào biên giới.
Khi biên giới lại có chiến tranh
Cuối thập niên 1970, chiến tranh lại đến ở biên giới phía Bắc.
Anh Nguyễn Thanh Vân K9 lên đường nhập ngũ đúng lúc chuẩn bị nhận đồ án tốt nghiệp.
Người con gái ở lại trường là Lê Kim Loan K11.
Nhiều năm sau, trong bài viết sau ngày giỗ đầu chồng, chị kể:
“Ngày ấy bao nhiêu lần Nhà trường tổ chức văn nghệ em lên hát những bài về biên giới mà thầm thương thầm nhớ anh.”
Một cô gái từng hát trong Đội văn nghệ Cơ Điện giờ hát về biên giới khi người mình thương đang ở chính nơi ấy.
Năm 1979, Đội văn nghệ lại lên đường.
Họ tới Bình Gia, Lạng Sơn, biểu diễn tại chiến hào cho bộ đội. Những ngày ấy, đội ăn ngủ trong bản của đồng bào Tày, Nùng.
Tám năm trước, người Cơ Điện từng mang tiếng hát tới nơi bộ đội chuẩn bị đi B.
Năm 1972, nhiều sinh viên của chính ngôi trường ấy trở thành lính.
Có người đi Khu 5.
Có người vào Tây Nguyên.
Có người nằm lại.
Những người trở về lại đứng trên sân khấu.
Rồi năm 1979, tiếng hát Cơ Điện lại đi lên chiến hào.
Một vòng tròn dường như khép lại:
có lúc người Cơ Điện là người cần một tiếng hát.
Có lúc chính họ mang tiếng hát đến cho người khác.
Loan vẫn hát
Thời gian rồi cuốn mỗi người về một phía.
Lê Kim Loan về Đà Nẵng, công tác tại Công ty Điện lực Đà Nẵng rồi nghỉ hưu.
Chồng chị, anh Nguyễn Thanh Vân K9, sau một đời đi cùng chị đã mất.
Những ngày cuối đời anh Vân, bạn bè K9 từ nhiều miền lần lượt vào Đà Nẵng thăm. Khi anh mất, họ lại vào tiễn.
Và sau đó, họ không để người vợ đứng ngoài vòng bạn bè của khóa.
Sau giỗ đầu chồng, chị Loan được mời về cuộc gặp K9 tại Đông Hà.
Chị đi.
Chị hát.
Chị ngâm thơ.
Trong bài viết năm 2020, chị chỉ viết một câu:
“Em hát đấy, em ngâm thơ đấy mà nước mắt em nuốt vào trong.”
Cô gái K11 từng đứng trước accordion của Độ và guitar của Hằng.
Người phụ nữ từng hát những bài về biên giới khi chồng ở biên giới.
Rồi hơn bốn mươi năm sau, mất chồng, chị trở lại giữa những người bạn K9.
Và vẫn hát.

Có lẽ một tiếng hát được giữ lâu không phải vì người ta nhớ chính xác từng nốt nhạc.
Mà vì trong đó có người.
Và Loan không phải người duy nhất vẫn mang theo tiếng hát của những năm Cơ Điện ấy.
Bốn mươi năm sau buổi sáng 1 tháng 5 năm 1975, Nguyễn Trọng Luân trở lại Trường Lê Quý Đôn nhân dịp kỷ niệm 140 năm thành lập trường.
Anh lại đứng trên sân khấu ấy.
Và lại hát Tiếng hát những đêm không ngủ.
Trong hàng nghìn người hôm đó, có một người bất ngờ chạy lên sân khấu ôm lấy anh: Trần Thanh Tuân K9MB. Khi ấy anh Tuân là Chủ tịch Hội Phụ huynh học sinh của trường.
Hai người Cơ Điện gặp nhau, sau bốn mươi năm, tại chính nơi một người từng cất tiếng hát vào buổi sáng đầu tiên sau ngày Sài Gòn giải phóng.

Một bài hát.
Một sân khấu.
Hai lần cất lên cách nhau bốn mươi năm.
Thời gian đã đi rất xa. Tiếng hát thì tìm được đường quay lại.
Những cây đàn chưa im tiếng
Có hai chàng trai khác của K10MC cũng đã đi qua hơn nửa thế kỷ.
Và điều kỳ lạ là cả hai vẫn chơi đàn.
Nguyễn Văn Chính – Chính “tơ” là một trong những cây guitar được bạn bè K10 nhớ mãi. Trong lễ kỷ niệm 50 năm ngày nhập trường, PGS.TS. Nguyễn Đình Mãn vẫn nhắc tới những âm thanh trầm bổng từ cây guitar của Chính trong những đêm đông năm ấy.
Ra trường, Chính đi một hành trình dài của người kỹ sư Cơ Điện. Gần ba mươi năm, anh làm Kỹ sư trưởng tại các khách sạn 5 sao, trong đó có Daewoo- Sheraton Hà Nội, Sheraton Nha Trang và JW Marriott Hà Nội.
Rồi nghỉ hưu.
Nhưng có một thứ dường như chưa nghỉ.
Cây guitar.

Còn Vũ Thế Hằng – Hằng “mèo”, chàng sinh viên từ Lai Châu năm 1974 mang cây guitar đến K10MC và chơi mandolin trong Đội văn nghệ, sau khi tốt nghiệp lại trở về Lai Châu công tác.
Từ một kỹ sư Cơ Điện, anh đi dần qua những trọng trách của nghề và từng giữ cương vị Phó Giám đốc Sở Điện lực Lai Châu. Sau đó, anh chuyển về công tác tại Trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam, làm Phó Hiệu trưởng, rồi nghỉ hưu ở Hà Nội.
Một hành trình nghề nghiệp dài đã đi qua.
Nhưng có một thứ từ thời K10MC vẫn đi cùng anh: âm nhạc.
Hằng vẫn chơi guitar, mandolin, organ, trống. Và cây đàn không chỉ nằm lại trong nhà. Những năm còn công tác, mỗi khi cơ quan có sự kiện hay hoạt động văn nghệ, anh lại góp một tiết mục; về sau, ở nơi cư trú cũng vậy. Khi thì hát, khi lại ôm cây mandolin bước lên một sân khấu nghiệp dư. Sân khấu không còn là sân khấu Cơ Điện năm nào, người nghe cũng đã là những gương mặt khác. Nhưng người cầm đàn vẫn là chàng Hằng “mèo” của K10MC – chỉ có thời gian là đã đi qua hơn nửa thế kỷ.
Và bây giờ, người nghe anh đàn nhiều nhất lại là những khán giả rất nhỏ.
Hằng dạy các cháu nội, cháu ngoại chơi đàn, chơi trống. Trong một bức ảnh hôm nay, người nhạc công K10MC năm 1974 ngồi trước cây organ; bên cạnh anh, một cô cháu nhỏ đang kéo violin.

Hơn nửa thế kỷ trước, một chàng trai từ Lai Châu mang cây guitar đến Trường Cơ Điện và gặp những người bạn cùng mê nhạc.
Hơn nửa thế kỷ sau, người ấy vẫn ngồi bên một cây đàn – chỉ khác là bên cạnh anh bây giờ đã có một thế hệ khác.
Có những cây đàn đi theo một người suốt cả cuộc đời.
Và có những ngọn lửa được truyền đi giản dị như thế.
Tiếng hát vẫn đi tiếp
Đầu những năm 1980, khi K9, K10, K11 dần rời trường, những sinh viên khóa sau vẫn tiếp tục hát.
Một cựu sinh viên K15I nhớ những đêm trên các triền đồi Cơ Điện, dưới ánh trăng, từng nhóm sinh viên tụ lại đàn hát. Xa xa là tiếng tàu chạy qua ga Lưu Xá.
Họ hát.
Và nhớ quê.
Năm 1969, những thầy giáo trẻ từng ngồi bên nhau chơi guitar và hát nhạc Nga.
K2 từng khoác tay nhau hát giữa rừng.
Đầu những năm 1970, hơn nghìn sinh viên từng ngồi trên đồi bạch đàn xem hội diễn.
Năm 1972, những người sắp ra trận từng hát thâu đêm ở quán Ông Già.
Năm 1974, vài chàng trai K10MC tình cờ tụ lại bên những cây đàn.
Năm 1975, những người lính trở về.
Rồi Trường ca Cơ Điện vang lên.
Năm 1979, tiếng hát lại đi tới chiến hào biên giới.
Và sau đó, trên những quả đồi Cơ Điện, những người trẻ khác lại tiếp tục cầm đàn.
Có lẽ đó mới là điều còn lại sau khi lần tìm câu chuyện Đội văn nghệ của một thời.
Không phải đội giành bao nhiêu giải.
Không phải ai là giọng hát hay nhất.
Cũng không nhất thiết phải chứng minh đó có phải là thời kỳ rực rỡ nhất của văn nghệ Nhà trường hay không.
Điều đáng nhớ hơn là:
đã từng có một thời, tiếng hát hiện diện ở gần như mọi ngóc ngách của đời sống Cơ Điện.
Trong phòng của những thầy giáo trẻ.
Trên đồi bạch đàn.
Ở nơi chống lũ.
Bên cửa sổ ký túc xá.
Trong quán nước cạnh đường số 3.
Ngoài chiến trường.
Trên sân khấu.
Trong phòng thu của Đài Phát thanh Việt Bắc.
Và ở chiến hào biên giới.
Nửa thế kỷ đã qua.
Đào Bá Văn – người từng hát Quán nửa khuya trong đêm trước ngày ra trận, rồi trở về thành một giọng ca của Đội văn nghệ, sau này từng là Chủ tịch Hội Cơ Điện Quảng Ninh – đã mất.
Nguyễn Văn Độ – chàng sinh viên từng mang cây accordion từ Nam Định lên Cơ Điện, người viết những bè đàn cho Trường ca Cơ Điện và điều hành ban nhạc tập khớp bài – còn rời những người bạn sớm hơn nhiều: ra trường chưa lâu, anh mất trong một tai nạn giao thông.
Bản thu Trường ca Cơ Điện năm 1975 chưa tìm thấy.
Nhưng thầy Nguyễn Thái vẫn còn nhớ để giúp Nhà trường khôi phục bài hát.
Nguyễn Trọng Luân vẫn còn những câu chuyện để kể.
Loan vẫn hát.
Chính vẫn đàn.
Hằng vẫn đàn – và đã bắt đầu trao cây đàn cho những bàn tay nhỏ hơn.
Có những băng ghi âm rồi sẽ hỏng.
Có những sân khấu rồi sẽ tháo đi.
Có những người rồi sẽ rời khỏi cuộc đời.
Nhưng nếu một thế hệ sau còn chịu khó cúi xuống nhặt lại từng bức ảnh, từng cái tên, từng câu hát, từng câu chuyện nhỏ mà người trước để lại, thì tiếng hát ấy chưa mất.
Nó chỉ đi từ người này sang người khác.
Từ người thầy sang người học trò.
Từ những chàng sinh viên sang những người lính.
Từ người lính trở về lại sân khấu.
Từ một người ông tới đứa cháu đang học những nốt đầu tiên.
Và từ một thế hệ Cơ Điện sang một thế hệ Cơ Điện khác.
Như lửa.
VỀ NGUỒN TƯ LIỆU
Bài viết này không nhằm dựng lại một lịch sử đầy đủ của Đội văn nghệ Trường Đại học Cơ Điện những năm 1970. Sau hơn nửa thế kỷ, nhiều tài liệu đã thất lạc, bản thu thanh Trường ca Cơ Điện năm 1975 chưa tìm lại được, và chắc chắn còn những con người, những tiết mục mà ký ức hôm nay không thể gọi lại hết tên.
Bài ký được hình thành từ những mảnh tư liệu còn lại, trong đó quan trọng nhất là lời kể và sự xác nhận trực tiếp của những người trong cuộc: thầy Nguyễn Thái – người phụ trách Đội văn nghệ; anh Nguyễn Trọng Luân; chị Lê Kim Loan; anh Vũ Thế Hằng; anh Nguyễn Văn Chính cùng những ảnh, ghi chép và ký ức do các nhân chứng cung cấp. Nhiều chi tiết về đội hình K9-K10-K11, ban nhạc K10MC, những buổi tập và hội diễn, dàn hợp xướng Trường ca Cơ Điện, các chuyến biểu diễn… đã được đối chiếu trực tiếp với những người từng tham gia.
Hai câu chuyện “Quán nửa khuya” và “Ào ào Bích Liên” của Nguyễn Trọng Luân cung cấp những lát cắt đặc biệt về đời sống tinh thần của thế hệ sinh viên Cơ Điện đi qua chiến tranh: từ đêm hát chia tay trước ngày nhập ngũ đến sức mạnh kỳ lạ của tiếng hát giữa chiến trường.
Một nguồn tư liệu đặc biệt quý khác là bài “Chúng tôi hát, làm thơ trên đường Trường Sơn” của Vũ Đình Khang – K4, đi bộ đội rồi trở về học K8, đăng trên Văn nghệ Quân đội ngày 18/2/2024. Bài viết ghi lại khá cụ thể đời sống văn nghệ của những sinh viên Cơ Điện trong quân ngũ: hơn 50 sinh viên của Trường cùng đơn vị; Vũ Đình Thiệp chơi accordion; Nguyễn Trọng Luân là một trong những giọng đơn ca; những đêm văn nghệ từ cấp trung đội, đại đội; đêm hát giữa tiếng bom B52 ở rừng Trại Cau tháng 12/1972; rồi những đêm hát, đọc thơ trong 100 ngày hành quân trên Trường Sơn. Bài viết cũng lưu lại tên những sinh viên Cơ Điện đã tham gia đời sống tinh thần ấy và có người sau đó hy sinh ở chiến trường.
Một nguồn quan trọng nữa là bộ bài dự thi cuộc thi “Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Những ký ức đi cùng năm tháng”, do Nhà trường tổ chức năm 2020 nhân kỷ niệm 55 năm truyền thống. Không có bài nào viết riêng về Đội văn nghệ, nhưng nhiều bài độc lập lưu lại những mảnh ký ức liên quan: tiếng guitar và những bài hát Nga của các thầy giáo năm 1969; sinh viên ôm đàn trước ngày nhập ngũ; những buổi văn nghệ cuối thập niên 1970; và những nhóm sinh viên vẫn tụ nhau đàn hát trên các triền đồi Cơ Điện đầu những năm 1980.
Phần lời “Trường ca Cơ Điện” của nhạc sĩ Đàm Thanh đã được lưu giữ trong tư liệu của TNUT và đối chiếu với ký ức của những người trực tiếp tham gia dàn hợp xướng năm 1975.
Những bức ảnh sử dụng trong bài đều là ảnh tư liệu do chính các nhân chứng cung cấp. Danh tính những nhân vật chính trong ảnh đã được đối chiếu với người trong cuộc; những trường hợp chưa đủ căn cứ xác định được giữ nguyên ở mức thông tin có thể kiểm chứng.
Có những chi tiết của một thời có lẽ sẽ không bao giờ tìm lại được đầy đủ.
Vì thế, bài viết xin giữ đúng bản chất của nó:
không phải một lịch sử chính thức của Đội văn nghệ Trường Cơ Điện, mà là một bài ký tư liệu được dựng từ những gì người trong cuộc còn nhớ, còn giữ, còn có thể xác nhận – và từ những gì thời gian may mắn chưa kịp mang đi.


