Chuyện Trường Cơ Điện

NGƯỜI CƠ ĐIỆN Ở ĐÂU, TÌNH CŨNG NHƯ LỬA CHÁY

Bài của Vũ Ngọc Pi · Tháng 8 15, 2026 · 23 phút đọc

Có những ngọn lửa được nhóm để soi một quãng đường trong đêm. Có những ngọn lửa đi hết một đời người. Và có một ngọn lửa, khi người cầm nó đã đi xa, vẫn tiếp tục cháy trong bàn tay những người chưa từng gặp họ.

CÂY ĐÈN BÃO ĐI TRONG ĐÊM

Chập tối ngày 5 tháng 9 năm 1969, năm người trẻ từ Yên Bái xuống ga Lưu Xá.

Đó là những ngày Bác Hồ vừa mất. Lần đầu tiên xa khỏi làng, họ mang giấy báo nhập học đi tìm một nơi có cái tên còn hoàn toàn xa lạ: Trường Đại học Cơ Điện, xã Tích Lương, huyện Đồng Hỷ. Hỏi hết người này đến người khác, họ lần tới xóm Cầu Thông khi trời đã nhập nhoạng. Trước mắt chỉ là những rặng tre, ruộng khoai, ao cá dưới chân đồi và những triền bạch đàn chìm dần trong bóng tối.

Trong túi Nguyễn Trọng Luân vẫn còn nắm cơm mẹ nắm cho từ nhà. Anh không dám ăn, cứ giữ khư khư như giữ một chút quê hương cuối cùng bên mình. Trời tối hẳn. Sao bắt đầu hiện lên trên những đồi bạch đàn. Cô bạn Hoan nhớ mẹ, sụt sịt khóc. Nhuận, người lớn tuổi hơn, bảo cả bọn ngồi lại để mình đi tìm nơi nào có ánh đèn mà hỏi đường.

Rồi Nhuận đi mất.

Bốn người trẻ ngồi ven con đường đất giữa những bụi mua. Thỉnh thoảng chó trong xóm sủa; chó sủa phía nào, cả bọn lại quay nhìn phía ấy.

Hai tiếng sau, từ bóng tối xuất hiện một đốm sáng nhập nhòe.

Nhuận trở về. Đi bên anh là một người đàn ông cao lêu nghêu, nói giọng Nam Bộ, tay xách cây đèn bão. Người ấy vác giúp ba lô cho Hoan rồi giục: các em mệt không, đi luôn nhé, kẻo khuya rồi. Thầy dẫn năm người trẻ đi thêm gần một giờ, hết đồi bạch đàn sang đồi sắn, cuối cùng tới một căn nhà phên nứa, tường trát đất, chia thành những gian phòng bé xíu.

“Đây là bộ môn Toán của trường.”

Các thầy đang nghỉ hè chưa lên đủ. Ông cho họ ngủ nhờ, chỉ dặn đừng nghịch sách vở của các thầy.

Nhiều năm sau Nguyễn Trọng Luân mới ghi lại tên người đàn ông đã đi hai tiếng trong đêm để tìm những sinh viên lỡ đường ấy: thầy Dương Cao Thăng, Tổ trưởng Bộ môn Toán, một người lính từng chiến đấu rồi tập kết ra Bắc năm 1954. Thầy giáo trẻ rủ sinh viên đói bụng đi ăn sắn luộc ngoài quán là Hoàng Sỹ Lâm. Người chơi đàn guitar ở phòng bên là nhà toán học Nguyễn Trần Nhu. Những chàng trai cô gái mới lớn khi ấy nhìn các thầy “như những người hành tinh khác”: sống cũng nghèo, cũng khó, nhưng sao ai cũng dễ gần đến vậy.

Đêm đầu tiên ở Đại học Cơ Điện của Nguyễn Trọng Luân bắt đầu như thế.

Không phải bằng tiếng trống khai trường.

Không phải bằng một bài giảng.

Mà bằng một người thầy cầm đèn đi tìm học trò trong đêm.

Hai mươi ba năm sau, tối 9 tháng 12 năm 1992, Nguyễn Trọng Luân ngồi tại Hà Nội viết bài thơ Ta hãy về với nhau. Ông đã đi qua chiến tranh, trở về học tiếp với những người bạn K9, đã nếm đủ những chia lìa của một thế hệ mà có những người đi rồi không về. Hôm sau, bài thơ được đọc trong cuộc gặp K9 tại 35 Tràng Tiền. Hai câu cuối rồi tách khỏi bài thơ để sống một cuộc đời riêng:

Người Cơ Điện ở đâu
Tình cũng như lửa cháy.

Nhiều năm sau, khi nhìn thấy câu thơ của mình được treo giữa ngày hội trường, được những thế hệ không học cùng mình nhắc lại như lời nhận nhau, Nguyễn Trọng Luân viết: “Bây giờ nó không phải là của tôi nữa.”

Có lẽ ông nói đúng.

Nhưng nếu lần ngược đời câu thơ ấy thật xa, ta sẽ thấy trước khi trở thành lửa, nó từng là một ngọn đèn bão.

Một ngọn đèn đi trong đêm Tích Lương.

NHỮNG NGƯỜI TỰ DỰNG LẤY MÁI TRƯỜNG CỦA MÌNH

Cây đèn của thầy Dương Cao Thăng không cháy một mình.

Mấy năm trước đó, mùa thu 1965, trên vùng đồi sim, đồi guột Tích Lương, một trường đại học bắt đầu hình thành. Những thế hệ đầu tiên đến đây không bước vào một khuôn viên hoàn chỉnh. Họ nhìn thấy những đồi đất, những mái tranh, chiến tranh đang lan rộng và một tương lai còn phải dựng bằng chính tay mình.

Và họ dựng thật.

Sinh viên lên Chợ Mới, Bắc Kạn, Phú Lương chặt nứa, cắt tranh; đan phên, đập nứa, trộn bùn với rơm trát vách, dựng nhà ở, dựng lớp học, làm bếp. Một cựu sinh viên K5 nhớ rằng khóa mình “vào trường bằng một suất vé đi Bắc Kạn, Chợ Mới Phú Lương cắt tranh và chặt nứa”. Mỗi tháng sinh viên còn phải cắt cỏ guột nộp cho bếp làm chất đốt. Họ tự nấu ăn, nuôi lợn, nuôi bò, đi chợ mua rau, mua mắm; bố mẹ ở quê chỉ biết con mình đi học đại học, đâu biết chúng đang phải học cả cách dựng một mái nhà và tổ chức một cuộc sống.

Cô Đỗ Thị Ngân Thanh về nhận công tác đầu năm 1967 đã sửng sốt trước những quả đồi trọc, bụi sim, mua, guột và những mái nhà tranh nhỏ bé nằm rải rác ở lưng đồi. “Trường đấy ư? Lớp học ở đâu? Sinh viên ở đâu?” Nhưng cũng chính trong những căn nhà ấy, những giáo viên trẻ mới rời Bách khoa bắt đầu soạn giáo án dưới ngọn đèn dầu, chuẩn bị những bài giảng đầu đời cho những học viên có người còn lớn tuổi hơn mình. Có lúc bom Mỹ nổ cách nhà vài trăm mét, mái nhà cháy, bom bi xuyên thủng chăn gối và xe đạp; hôm sau công việc lại tiếp tục.

Cái khó không chỉ thử sức người. Nó buộc con người phải dựa vào nhau.

Một cựu sinh viên K5 sau hơn nửa thế kỷ tìm lại được hai từ chính xác nhất để nói về quan hệ thầy trò Cơ Điện những năm ấy: “đùm bọc” và “sẻ chia”. Thầy có sắn thì gọi trò tới ăn. Sinh viên cần hỏi bài thì đi bộ tới bộ môn. Các cô bác phục vụ coi đám trẻ xa nhà như em, như cháu. Một miếng ăn cũng có thể được mang từ khu sơ tán này sang khu sơ tán khác cho nhau.

Không ai ngồi lại để thiết kế ra một thứ gọi là “bản sắc Cơ Điện”.

Nó tự hình thành khi những con người thiếu thốn sống đủ lâu bên nhau và hiểu rằng: nếu mình không đỡ người bên cạnh, rất có thể chẳng còn ai khác đỡ họ.

Những thế hệ sau này gọi vùng đất ấy là “Văn khí Tích Lương”, tìm cách lý giải vì sao từ nơi nghèo khó ấy lại hình thành một cộng đồng có sức gắn kết lạ thường. Có lẽ mọi cách lý giải đều đúng một phần. Nhưng đôi khi câu trả lời giản dị hơn nhiều: người ta từng dựng nhà cho nhau, nấu cơm cho nhau, học với nhau, tránh bom cùng nhau, đói cùng nhau và lớn lên cùng nhau.

Một tình cảm được thử trong hoàn cảnh như thế sẽ rất khó trở thành hời hợt.

TNUT - Trường Cơ Điện
Thầy Đỗ Hữu Phú cùng đồng nghiệp trước một mái nhà tranh của Đại học Cơ Điện những năm đầu – một mái trường đã bắt đầu từ những gì giản dị như thế. Ảnh tư liệu TNUT.

KHI MỘT MÁI TRƯỜNG CÙNG RA TRẬN

Rồi những người vừa dựng xong lớp học phải rời lớp học.

Trong sáu đợt tuyển quân lớn từ năm 1970 đến 1972, 505 đoàn viên của trường, gồm cả thầy giáo và sinh viên, lên đường nhập ngũ.

Đằng sau con số ấy là 505 cuộc đời đang dở dang những việc rất bình thường: một kỳ thi, một đồ án, một mối tình, một đứa con nhỏ, một dự định nghiên cứu.

TNUT ; Trường Cơ Điện
Từ giảng đường Cơ Điện, nhiều người trẻ đã khoác ba lô ra trận. Có những người trở về, có những người nằm lại. Ảnh từ anh Nguyễn Trọng Luân.

Năm 1972, thầy Nguyễn Văn Huấn, giảng viên Khoa Điện, vừa tròn ba mươi tuổi, nhập ngũ cùng học trò. Từ ngày vào đơn vị, học trò gọi thầy bằng “anh”. Ở lại trường, cô Trần Mai Phước – vợ thầy, giảng viên Sức bền vật liệu – vừa nuôi con vừa đạp xe khoảng ba mươi cây số, qua đò sông Công vào nơi sinh viên K6 sơ tán để dạy. Lương cô 64 đồng, lương người chồng binh nhì 5 đồng. Tháng nào cô cũng dành mười đồng gửi anh.

Anh không lấy.

Chị giận.

Anh mếu.

Chị khóc.

Đứa con nhỏ ngồi nhìn bố mẹ đẩy qua đẩy lại tờ giấy bạc.

Không cần nói thêm về sự hy sinh của một gia đình nhà giáo thời chiến. Những con số và cử chỉ ấy đã nói đủ.

Sinh viên K6MC tại nơi sơ tán Bình Định, tháng 12/1972 – giữa chiến tranh, những lớp học Cơ Điện vẫn không dừng lại. Ảnh tư liệu TNUT.

Trên Trường Sơn, những người lính từng học Cơ Điện tìm nhau như người cùng quê. Một cựu chiến binh bị sốt rét ác tính nhớ những người bạn đã mang giúp ba lô, tìm chỗ mắc võng, đổi cả đồ dùng lấy gà nấu cháo cho mình. Khi anh không đi nổi, Lương Xuân Cảnh K5IB – người cũng đã gầy lả vì hành quân – cõng bạn hàng giờ trong rừng tới bệnh viện trạm 78. Ba năm sau, chiến tranh kết thúc, người lính ấy vừa tới Sài Gòn đã tìm đường xuống Đồng Dù, Củ Chi. Họ ôm nhau sau gần một nghìn ngày xa cách; rồi trong chính cuộc gặp ấy biết thêm tên những người bạn sẽ không trở về nữa.

Có người rời trường khi chỉ còn vài tuần nữa bảo vệ đồ án. Trước ngày đi, anh về Hà Nội dự sinh nhật cô bạn gái học piano. Trên đường ra ga, anh nhờ bạn chạy quay lại trao một mẩu giấy nhỏ: “Quên đi em, thời gian sẽ giúp ta. Chào em!”

Anh đi.

Không trở về.

Hơn ba mươi năm sau, người bạn mang mẩu giấy năm ấy tình cờ gặp lại cô gái trong một buổi hòa nhạc. Bà đã thành một nghệ sĩ piano đứng tuổi, không lập gia đình, nhận học trò làm con.

Một cộng đồng sẽ đối xử thế nào với những người không trở về?

Người Cơ Điện chọn cách nhớ tên họ.

Trần Minh Hải và những cựu chiến binh khác nhiều năm cần mẫn sưu tầm danh sách người nhập ngũ, người hy sinh, hỏi lại bạn bè những trường hợp chưa rõ. Trong những bản ghi ấy có chỗ chính người sưu tầm phải thú nhận rằng mình chưa chắc, nhờ bạn cùng khóa bổ sung cho đúng. Điều đáng quý không phải là họ có một danh sách hoàn hảo; điều đáng quý là sau bốn, năm chục năm, họ vẫn thấy một cái tên còn thiếu là một món nợ.

Chiến tranh có thể lấy một con người khỏi cuộc đời.

Nhưng những người còn sống không muốn sự lãng quên lấy người ấy đi thêm lần nữa.

Có lẽ từ những mất mát như thế mà ba chữ “về với nhau” về sau mới có sức nặng đến vậy.

Những người trở về đứng trước những người đã nằm lại – để một cái tên Cơ Điện không rơi khỏi ký ức.

HÒA BÌNH RỒI, LỬA ĐỔI HÌNH

Nếu tình người Cơ Điện chỉ sáng trong chiến tranh, nó đã trở thành một chương lịch sử đẹp.

Nhưng hòa bình trở lại, ngọn lửa ấy không tắt. Nó chỉ chui vào những việc nhỏ hơn.

Tháng 2 năm 1978, Trần Thanh Tuân K9MB đau ruột thừa giữa đêm rét. Quang “Menđe”, Dũng “Bờm”, Tường “Đen” vừa cõng vừa kéo bạn lên trạm xá. Xe cấp cứu hỏng, họ chạy qua gần chục quả đồi tìm bác Lâm, lái xe của trường. Chẳng bao lâu sau, chiếc IFA lao trong đêm đưa Tuân tới bệnh viện, kịp mổ khi ruột thừa sắp vỡ.

Ba người bạn bắt thăm chia việc. Một người ở lại bệnh viện. Một người đi bộ một quãng đường rất dài cả đi lẫn về để báo cho em trai bạn. Người thứ ba nhận nhiệm vụ nghe vừa buồn cười vừa gần như không thể đối với đám sinh viên không có một xu:

sáng mai phải kiếm được hai hộp sữa cho thằng vừa mổ.

Anh sang trường Sư phạm “vận động”.

Hai hộp sữa rồi cũng có.

Và trong chuyến xin sữa ấy, anh quen cô sinh viên Hoài. Vài năm sau, họ thành vợ chồng. Mấy chục năm sau gặp nhau, đôi vợ chồng ấy vẫn đùa rằng phải cảm ơn… cái ruột thừa.

Một chuyện rất sinh viên. Nhưng nếu bóc lớp hài hước ra, bên dưới là cả một định nghĩa: một người gặp chuyện thì những người khác tự nhiên đứng dậy.

Không cần ai kêu gọi.

Không cần một khẩu hiệu trên tường.

Năm 1985, Nguyễn Trọng Bằng – cựu sinh viên K10M Trường Đại học Cơ Điện Bắc Thái – được giao phụ trách nhóm thiết kế máy cán thép mini tại Nhà máy Cơ khí Mỏ Bắc Thái. Cán thép là lĩnh vực anh gần như chưa được học; tài liệu chuyên ngành lại hầu như không có. Chợt nhớ những năm đầu trường từng đào tạo nghề này, một ngày tháng Bảy, anh cùng kỹ sư Phùng Ngọc Cầm – K13MB đạp xe ba mươi cây số giữa nắng hè trở về trường tìm sách.

Người cán bộ thư viện Nguyễn Xuân Sáng bắc ghế trèo lên những tầng sách cao tìm giúp. Mồ hôi chảy, cặp kính cận dày cứ trễ xuống. Hàng chục cuốn được lấy ra rồi đặt lại. Bỗng có tiếng rơi. Anh Sáng bước ra, một tay cầm chiếc kính đã vỡ, tay kia ôm cuốn sách cũ, gương mặt sáng lên:

“Đây rồi em ạ!”

Đó là Tính toán thiết kế lỗ hình cán thép, xuất bản tháng 12 năm 1965 – gần như cùng tuổi với trường. Nguyễn Trọng Bằng mang sách về đọc ngày, đọc đêm. Ba tháng sau, nhóm của anh chế tạo thành công máy cán thép mini ba trục Ø250. Từ chỗ gần như chưa biết về cán thép, người kỹ sư K10M ấy đã làm chủ thiết kế lỗ hình trục cán, rồi đi sâu vào công nghệ cán trong nhiều năm sau đó.

Cuốn giáo trình theo anh suốt ba mươi lăm năm như một “gia bảo”. Đến năm 2020, Nguyễn Trọng Bằng quyết định đưa nó trở về trường, mong rằng khi mái trường tròn một trăm tuổi, cuốn sách năm 1965 vẫn còn trên giá và câu chuyện của nó vẫn được kể.

Ba mươi lăm năm trước, một người thủ thư trao cuốn sách cho người học trò đang cần tìm đường. Ba mươi lăm năm sau, người học trò ấy lại trao nó về cho mái trường.

Người nhận rồi lại trở thành người trao.
Đó cũng là Lửa truyền tay.

TÌNH ĐI RA NGOÀI CỔNG TRƯỜNG

Có một lúc nào đó, tình Cơ Điện không còn chỉ thuộc về những người mang thẻ sinh viên.

Nó đi vào gia đình họ.

Trong những bài viết của K9 có hẳn khái niệm “Vợ Cơ Điện”. Người ta nói vui về những “chị dâu Cơ Điện”, nhưng phía sau tiếng cười là những phụ nữ đã đi cùng đời những kỹ sư phải công tác xa nhà, đã nuôi con, chờ chồng, gánh việc gia đình và nhiều khi còn phải cùng chồng gánh cả bạn bè.

Năm 2020, một cựu nữ sinh K11 viết một bức thư sau giỗ đầu của chồng – anh Nguyễn Thanh Vân K9. Những tháng cuối đời anh, bạn bè K9 từ Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Sài Gòn, Quảng Trị… lần lượt vào Đà Nẵng thăm. Người không đi được thì gửi lời, gửi tiền. Khi anh mất, bạn bè lại vào tiễn.

Rồi họ không chỉ tiễn người chồng.

Họ giữ luôn người vợ ở lại trong vòng bạn bè của khóa.

Sau ngày giỗ đầu, chị được mời về cuộc gặp của K9 ở Đông Hà. Chị tự nhủ mình vừa là K11, vừa là “dâu K9”, phải đi thay cả phần chồng. Chị hát, chị ngâm thơ cùng bạn bè của anh. Và mỗi khi một người Cơ Điện gọi điện, chị viết rằng lòng mình lại thấy ấm, thấy cuộc sống này vẫn còn rất nhiều điều tốt đẹp.

Một người mất đi.

Nhưng chỗ của họ trong tình bạn không nhất thiết phải mất theo.

Có lẽ vì thế, ngày 6 tháng 12 của Cơ Điện không chỉ là ngày nhớ một mốc thành lập. Nó trở thành cái cớ để người ta kiểm tra xem những người của mình còn đủ không.

Trác Dũng từng kể một đêm hội, giữa đông người, bỗng nhận ra thiếu một người bạn. Nhà bạn ở không xa. Ông cùng người khác tìm đến, thấy bạn đang có chuyện buồn. Không hỏi nhiều. Kéo ra quán, ngồi với nhau. Nửa đêm đưa bạn về. Sáng hôm sau, người bạn ấy lại có mặt trên sân trường.

Khoảng cách giữa hai trái tim đo bằng gì?

Có khi chỉ bằng khả năng nhận ra giữa một cuộc vui rằng hôm nay thiếu một người.

NẮM ĐẤT ĐI NGƯỢC MỘT CON ĐƯỜNG

Rồi đến tháng 10 năm 2020.

Một đoàn người Cơ Điện từ Thái Nguyên về Quảng Trị. Trong hành lý có một ít đất lấy gần nhà A7, phía nhà ăn của trường, và một ít nước từ khuôn viên Cơ Điện.

Ngày 6 tháng 10, làng Câu Nhi mưa không dứt.

Hiệu trưởng Nguyễn Duy Cương đứng đầu trần trong mưa trước phần mộ kỹ sư Đỗ Hữu Phú – người đã dành mười ba năm đầu tiên đặt nền móng cho Trường Đại học Cơ Điện. Ông rắc nắm đất từ Thái Nguyên xuống phần mộ người tiền nhiệm.

Năm 1965, Đỗ Hữu Phú rời Hà Nội lên vùng đồi sim, đồi guột dựng trường.

Năm mươi lăm năm sau, một ít đất của ngôi trường ấy tìm về nơi ông nằm lại.

Nắm đất đi ngược một con đường.

Nhưng tình người thì đi đúng con đường của nó: từ thầy sang trò, từ thế hệ trước sang thế hệ sau, rồi từ những người đang sống trở về với người đã khuất.

Có những lúc chẳng cần nói “uống nước nhớ nguồn”.

Một nắm đất đã nói thay.

Một nắm đất từ Tích Lương trở về Câu Nhi. Ảnh tư liệu TNUT.

Và có lẽ chính ở đó ta hiểu rằng Cơ Điện không chỉ là tên của một ngôi trường trong lịch sử. Nó không chỉ là nơi đào tạo kỹ sư, không chỉ là những mái nhà, chương trình học hay những khóa sinh viên.

Cơ Điện còn là một cách con người đối xử với nhau.

Nhớ người đã dạy mình. Không bỏ bạn khi họ gặp nạn. Không để một cái tên rơi khỏi ký ức. Khi thành đạt vẫn biết đường về. Đã nhận của mái trường một điều gì thì đến lúc nào đó biết tìm cách trao lại.

NHỮNG NGƯỜI GIỮ CHO LỬA KHÔNG “KHÔ”

Lửa không tự cháy sáu mươi năm.

Phải có người thêm củi.

Nguyễn Trọng Luân giữ bạn bè và đồng đội bằng những trang viết. Trần Minh Hải cần mẫn chép từng mốc, từng cái tên của những người lính Cơ Điện. Nguyễn Văn Hùng – “Hùng bò”, “Hùng đầu bạc” – làm blog, kỷ yếu, bản đồ và cùng bạn bè dựng Tháp bút. Trần Thanh Tuân – “Tuân Vịt” K9 – tổ chức hết cuộc gặp này tới cuộc gặp khác, viết về thầy, về bạn, nhớ cả những biệt danh tưởng chỉ sống được một thời sinh viên. Bảy mươi tuổi, ở một nơi xa, anh vẫn viết ba chữ rất trẻ: “Nôn nao ngày gặp mặt Cơ Điện 6/12.”

Có người viết sách.

Có người trồng cây.

Có người đem máy mới về cho xưởng thực tập.

Có người lập học bổng.

Có người chỉ giữ một tấm ảnh và cố gọi đúng tên những người trong ảnh.

Không phải ai cũng làm việc lớn. Nhưng truyền thống vốn không được giữ bởi một người làm một việc thật lớn. Nó được giữ bởi rất nhiều người không chịu để những việc nhỏ đáng nhớ biến mất.

Trác Dũng từng đúc kết vui về những người làm hội:

“Không sợ khó, không sợ khổ, chỉ sợ khô.”

“Khô” ở đây có lẽ không chỉ là một lễ hội nhạt đi.

Một cộng đồng sẽ “khô” khi người ta thôi nhớ nhau, thôi tìm nhau, thôi biết ơn những người đã đi trước, thôi cảm thấy mình đang nợ thế hệ sau một điều gì đó.

Và điều đáng quý là ngọn lửa ấy còn quay trở lại nuôi chính nơi nó sinh ra. Cựu sinh viên góp máy móc, cây xanh, quỹ học bổng, tư vấn, hợp tác; những người thành đạt mở thêm đường cho người trẻ. Trường từng đào tạo họ; đến một lúc nào đó họ lại trở về góp sức cho trường.

Trường nuôi người. Người nuôi lại trường.

Một vòng tròn được khép lại để mở ra vòng tròn khác.

Những thế hệ đi trước trở về; những thế hệ mới lại bước tới. Cơ Điện vẫn là một dòng chảy tiếp nối. Ảnh tư liệu TNUT.

LỬA KHÔNG THUỘC VỀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ GIÀ

Những người từng chặt nứa dựng lớp nay phần lớn đã ở tuổi rất cao. Những sinh viên từng khoác ba lô ra trận tóc đã bạc. Có người không còn nữa.

Nhưng không nên vì thế mà nghĩ Tình người Cơ Điện là tài sản riêng của một thế hệ cũ.

Nếu nó chỉ thuộc về họ, ngọn lửa đã tắt từ lâu.

Một bài viết từ góc nhìn K15 đã nhận ra điều rất đúng: người Cơ Điện có thể không hào hoa bóng bảy, dáng “như những cây bạch đàn trên đồi đá ong”; giống chè Thái, nhìn mộc, ban đầu đượm chát rồi sau mới thấy ngọt.

Cái cần trao lại cho thế hệ sau không phải cái đói.

Không phải mái tranh.

Không phải chiến tranh.

Không phải những chuyến đi bộ hàng chục cây số hay cách nhảy tàu trốn vé của sinh viên một thời.

Không ai cần người trẻ phải khổ giống cha anh để xứng đáng với cha anh.

Mỗi thời có thử thách của mình.

Ngày trước, lửa là một người thầy xách đèn đi hai tiếng trong đêm tìm sinh viên lạc đường. Hôm nay, nó có thể là một giảng viên ở lại sau giờ học chỉ để giúp một sinh viên chưa hiểu bài.

Ngày trước, lửa là mấy người bạn cõng nhau qua những quả đồi tìm xe cấp cứu. Hôm nay, nó có thể là một nhóm đồ án không bỏ lại thành viên yếu nhất.

Ngày trước, lửa là chiếc áo đổi lấy con gà nấu cháo cho người bạn sốt rét giữa Trường Sơn. Hôm nay, nó có thể chỉ là nhận ra một người bạn đang im lặng bất thường giữa cả lớp.

Ngày trước, một cuốn giáo trình cũ giúp người kỹ sư mở được con đường nghề nghiệp. Ngày mai, một kỹ sư thành đạt có thể trở lại mở cho sinh viên trẻ một phòng thí nghiệm, một chỗ thực tập, một cơ hội nghề nghiệp.

Hình thức sẽ thay đổi.

Phần người không được mất.

Một cựu sinh viên K5 đã viết sau hơn nửa thế kỷ:

“Với trường Đại học Cơ Điện, tình người là tài sản quý giá nhất của hơn nửa thế kỷ dựng xây.”

Tài sản ấy không nằm trong két.

Không thể đo bằng số mét vuông giảng đường, số máy CNC, số đề tài khoa học hay số người thành đạt.

Nó nằm trong cách một người nhớ một người khác.

Trong cây đèn bão của thầy Dương Cao Thăng.

Trong mười đồng cô Phước dúi cho chồng.

Trong cái lưng gầy của Lương Xuân Cảnh cõng bạn giữa Trường Sơn.

Trong hai hộp sữa.

Trong chiếc kính vỡ của Nguyễn Xuân Sáng bên cuốn giáo trình vừa tìm được.

Trong một người vợ vẫn được bạn bè của người chồng đã mất gọi về dự hội.

Trong những cái tên mà Trần Minh Hải chưa chịu gạch bỏ khỏi cuộc tìm kiếm.

Trong nắm đất từ Tích Lương trở về Câu Nhi.

Và nó chỉ thật sự là tài sản nếu người đang có nó biết trao lại.

Con đường vẫn còn người đi tiếp. Ảnh tư liệu TNUT.

TỪ CÂY ĐÈN ĐẾN NGỌN LỬA

Rồi sẽ đến một ngày không còn ai từng học trong những mái nhà tranh năm ấy.

Không còn ai nhớ bằng ký ức của chính mình cái rét Tích Lương, ga Lưu Xá những năm chiến tranh, những bữa cơm độn sắn hay đêm đầu tiên của năm sinh viên Yên Bái.

Những người hôm nay đang kể chuyện rồi cũng sẽ bước vào những tấm ảnh cũ.

Điều đó không đáng sợ.

Điều đáng sợ chỉ là câu chuyện vẫn còn mà cách sống đã mất.

Bởi truyền thống không sống nhờ việc chúng ta thuộc thật nhiều chuyện cũ. Nó sống khi một người ở thời đại khác, trong một hoàn cảnh khác, vẫn làm được điều có cùng bản chất với những người đi trước.

Có thể vài chục năm nữa, trong một nhà máy ở miền Trung, một công trường ngoài biển, một phòng nghiên cứu ở châu Âu hay một thành phố cách Thái Nguyên nửa vòng trái đất, hai người hoàn toàn xa lạ tình cờ gặp nhau.

Trong câu chuyện, một người nói:

“Tôi học Cơ Điện.”

Người kia nhìn lên:

“Thế à? Tôi cũng Cơ Điện.”

Không cần cùng khóa.

Không cần cùng khoa.

Không cần từng gặp nhau.

Chỉ mong lúc ấy trong lòng có một điều gì đó chợt ấm lên.

Và bàn tay tự nhiên chìa ra.

Nếu điều ấy còn xảy ra, cây đèn bão của thầy Dương Cao Thăng năm 1969 vẫn chưa tắt.

Bởi hai mươi ba năm sau đêm ấy, một trong những cậu sinh viên từng ngồi chờ ánh đèn giữa đồi bạch đàn đã viết ra hai câu thơ. Rồi câu thơ rời khỏi ông để sang tay bạn bè. Bạn bè trao cho những khóa sau. Những người tóc bạc trao cho người trẻ. Người trẻ hôm nay rồi sẽ trao cho những người còn chưa ra đời.

Đó có lẽ là hành trình dài nhất của cây đèn năm ấy.

Từ bàn tay một người thầy,
sang trái tim một người học trò,
rồi thành ngọn lửa của một mái trường.

Lửa không thể cất trong phòng truyền thống.

Lửa cũng không thể giữ bằng cách đứng nhìn nó.

Lửa chỉ sống khi được truyền sang một bàn tay khác.

Và chừng nào cuộc trao tay ấy còn tiếp tục, hai câu thơ Nguyễn Trọng Luân viết trong đêm mùa đông năm 1992 vẫn còn sống:

Người Cơ Điện ở đâu,
Tình cũng như lửa cháy.

VỀ NGUỒN TƯ LIỆU

Bài viết được chắt lọc từ các tài liệu lịch sử của Nhà trường; hồi ức, kỷ yếu và bài viết của nhiều thế hệ thầy cô, sinh viên, cựu sinh viên Cơ Điện; đặc biệt là các tác phẩm tham dự cuộc thi “Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Những ký ức đi cùng năm tháng” năm 2020.

Nhiều câu chuyện trong bài là lời kể của những người trực tiếp chứng kiến: cây đèn bão của thầy Dương Cao Thăng đêm tháng 9/1969, những năm dựng trường và ra trận, tình thầy trò – đồng đội, cuốn giáo trình cán thép trở về trường sau hơn ba mươi lăm năm, cùng những cuộc tìm về của người Cơ Điện sau hàng chục năm xa cách.

Xin tri ân những người đã giữ lại một câu chuyện, một cái tên, một tấm ảnh, một kỷ niệm để hôm nay chúng ta còn có thể nhìn thấy những thế hệ Cơ Điện đã đi qua.

Bởi ký ức chỉ thành di sản khi có người giữ lại.
Và ngọn lửa chỉ thành truyền thống khi có người trao đi.

GHI CHÚ VỀ NHÂN VẬT

Một số thầy giáo, cán bộ và cựu sinh viên được nhắc đến trong bài:

Chia sẻ: Facebook Zalo
Vũ Ngọc Pi

Vũ Ngọc Pi

Gần năm mươi năm ở đất Thái, tôi may mắn được gặp nhiều người thầy, người thợ, người nghệ nhân và những con người bình dị đã dành cả cuộc đời để giữ lửa cho mái trường, quê hương và nghề nghiệp. Tôi chỉ làm một việc rất nhỏ: kể lại những câu chuyện của họ bằng tất cả lòng biết ơn.

Đọc tiếp

Mỗi tuần, một ngọn lửa được trao đi

Nếu câu chuyện này chạm được đến bạn, hãy để lại email — mỗi bài viết mới của Giữ lửa nghề sẽ tìm đến bạn. Không quảng cáo. Không thư rác. Chỉ có những câu chuyện được viết bằng sự trân trọng.

Để lại email. Cùng giữ một ngọn lửa.

Bạn có thể rời danh sách bất cứ lúc nào. Địa chỉ email chỉ được dùng để gửi bài viết mới từ Giữ lửa nghề.