Có những người để lại dấu ấn bằng một công trình.
Có những người bằng một chức vụ.
Có những người đi qua rất nhiều chức vụ, rất nhiều công việc, nhưng điều khiến người khác nhớ nhất lại là một việc nhỏ đến mức chẳng thể ghi vào lý lịch:
một lần họ mở phần mình có ra cho người khác.
Với thầy Hoàng Ngọc Tuấn, câu chuyện ấy bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ trước.
Giữa một mùa lũ ở Trường Đại học Cơ Điện.
Với nửa cân đường.

NỬA CÂN ĐƯỜNG
Những năm ấy, Trường Đại học Cơ Điện còn nghèo.
Cái nghèo không chỉ nằm trong những mái nhà tranh, những bữa cơm đạm bạc hay chiếc áo mỏng giữa mùa đông Thái Nguyên.
Nó nằm ngay trong từng phần tiêu chuẩn ít ỏi mỗi người được nhận.
Mùa lũ năm ấy, một số nữ sinh K4M bị nhỡ gạo. Xa nhà, nước lũ, gạo chưa tới, những cô gái trẻ rơi vào cái đói giữa một mái trường mà chính thầy cô cũng chẳng dư dả gì.
Thầy Hoàng Ngọc Tuấn khi ấy còn trẻ. Thầy có phần đường tiêu chuẩn của mình – nửa cân. Thầy đem ra pha nước, thầy trò cùng uống.
Chuyện chỉ có thế. Không diễn văn, không một lời cảm ơn long trọng, cũng chẳng ai đứng đó nghĩ rằng mình vừa chứng kiến một điều đáng để hơn nửa thế kỷ sau còn có người nhắc lại.
Có lẽ chính thầy Tuấn cũng không nghĩ mình đang làm việc gì đặc biệt. Mấy cô sinh viên đang đói, mình có chút đường.
Thì chia.
Chỉ vậy thôi.
Nhưng đôi khi chính cái “chỉ vậy thôi” ấy lại nói được rất nhiều về một con người. Người có nhiều đem cho một ít đã là điều đáng quý; còn một người cũng chẳng có bao nhiêu mà vẫn sẵn lòng mở phần mình đang có ra cho người khác – đó không còn chỉ là một việc tốt. Đó là một cách sống.
KHI GẦN NHƯ KHÔNG AI CÓ GÌ THỪA
Nhắc đến Cơ Điện những năm ấy, người ta dễ nhớ cái đói.
Nhớ mùa đông.
Nhớ cơm độn.
Nhớ chiến tranh.
Nhớ những thứ hôm nay quá bình thường mà ngày ấy lại phải chắt chiu.
Nhưng nếu chỉ nhớ gian khó, ta mới nhìn thấy một nửa.
Nửa còn lại nằm ở một điều tưởng như nghịch lý:
trong một thời gần như không ai có gì thừa, người ta vẫn tìm được thứ để chia.
Liều Mai Sâm, K15I, nhớ những nồi mì của thời sinh viên: lúc nấu chỉ có hai người, nhưng đến lúc ăn có khi đã thành cả chục, mỗi người một chiếc thìa. Có lần, nhà ở ngay Thái Nguyên, ông về lấy cả một ba lô mì mang xuống nội trú, treo ở đầu giường. Buổi tối đi chơi về, mì đã hết – chủ nhân còn chưa kịp ăn.
Kỳ Thiết Bảo, K11I, lại nhớ một cái thiếu khác: hai, ba người mới có một bộ sách giáo khoa; thước tính logarit, compa và nhiều dụng cụ học tập đều phải dùng chung. Những sinh viên kỹ thuật ngày ấy học cách tính toán chính xác bằng những thứ mà đôi khi muốn dùng, chính mình cũng phải chờ đến lượt.
Một nồi mì, một bộ sách, một chiếc thước tính, một cái compa. Rồi chiếc áo bông, củ sắn, chỗ nằm, một ít đường… Những thứ rất nhỏ ấy ghép lại thành đời sống của một thời mà ranh giới giữa “phần của tôi” và “phần của chúng ta” dường như rất mỏng.
Không phải vì người ta có nhiều để cho nhau. Mà chính vì ai cũng có quá ít.
Bởi thế, thứ được đem ra chia mang một trọng lượng khác. Người ta không chỉ chia cái dư. Có khi, người ta chia chính phần mình cũng đang cần.
Nửa cân đường của thầy Hoàng Ngọc Tuấn nằm trong một thời như thế.
Và vì thế, điều còn lại sau hơn nửa thế kỷ không phải vị ngọt của nước đường.
Mà là bàn tay đã mở ra.
PHẦN CỦA MÌNH
Thời gian đi qua, người thầy trẻ của mùa lũ năm ấy trở thành Trưởng Bộ môn Chi tiết máy của Trường Đại học Cơ Điện. Năm 1982, thầy sang Tiệp Khắc làm nghiên cứu sinh; năm 1986 trở về, rồi tiếp tục những chặng đường nghề nghiệp mới tại Bộ Giao thông Vận tải và Hải Phòng, sau này đảm nhiệm cương vị Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng.
Một đời người đi qua nhiều nơi, công việc và chức danh cũng nhiều lần thay đổi. Điều một người có trong tay vì thế cũng khác đi theo năm tháng. Ngày trẻ, thầy có nửa cân đường. Sau này, thầy có kiến thức, kinh nghiệm, thời gian và uy tín; có thể mở một cánh cửa cho người khác, trả lời một câu hỏi, lắng nghe một điều khó nói, hay giúp một người trẻ được đối xử công bằng.
Nhưng khi đặt những ký ức về thầy cạnh nhau, ta nhận ra giữa bao nhiêu đổi thay ấy dường như vẫn có một điều không đổi:
phần mình có mỗi lúc một khác, nhưng bàn tay mở ra thì vẫn thế.
MỘT CUỐN ĐỒ ÁN ĐƯỢC MANG VỀ NHÀ
Có một sinh viên K16M bảo vệ đồ án Chi tiết máy trước thầy Hoàng Ngọc Tuấn. Đề tài là thiết kế hệ dẫn động dùng hộp giảm tốc trục vít – bánh vít hai cấp.
Thầy hỏi khá kỹ. Sinh viên lần lượt trả lời được, cho đến câu cuối cùng.
Trên bản vẽ, chế độ lắp giữa bánh vít và trục được chọn khác với cách thường thấy trong các sách hướng dẫn thiết kế.
Thầy hỏi:
– Tại sao em lại chọn cách lắp này?
Sinh viên trình bày rằng mình không lấy theo bảng hướng dẫn mà đã tính toán để lựa chọn chế độ lắp.
– Em tính theo tài liệu nào?
– Thưa thầy, em tham khảo cuốn Bài tập Dung sai.
Cuộc hỏi đồ án dừng lại ở đó.
Thầy Tuấn hoàn toàn có thể kết luận ngay. Thầy là người chấm; trước mặt thầy là một sinh viên, mà cách làm của sinh viên lại khác với điều vẫn thường thấy trong sách hướng dẫn.
Nhưng thầy không nói đúng.
Cũng không nói sai.
Cuối buổi sáng, thầy cầm cuốn đồ án về nhà.
Đầu giờ chiều, thầy trở lại, gọi sinh viên lên và cho điểm 9:
“Em làm rất tốt. Thầy đã kiểm tra lại sách rất cẩn thận rồi mới kết luận và cho điểm.”
Nhiều năm sau, người sinh viên ấy vẫn nhớ điểm 9. Nhưng có một điều đáng nhớ hơn cả điểm 9:
người thầy đã mang bài của trò về nhà để kiểm tra lại chính mình.
Thầy có quyền kết luận, nhưng không dùng quyền của người chấm thay cho sự thật. Một buổi trưa được dành để mở lại sách, kiểm tra lại lập luận, rồi mới trở về nói với học trò rằng em làm đúng.
Điểm 9 thuộc về một bài đồ án Chi tiết máy.
Còn bài học lớn nhất của buổi bảo vệ hôm ấy lại không nằm trong bất kỳ chương nào của môn học:
Trước khi phán xét một người khác, hãy đủ công bằng để kiểm tra lại chính mình.
CÓ NHỮNG THỨ ĐỂ CHIA MÀ KHÔNG CÂN ĐƯỢC
Ngày mùa lũ, thầy chia đường.
Ngày hỏi đồ án, thầy chia thời gian của mình cho sự công bằng của một sinh viên.
Hai việc cách nhau nhiều năm.
Một việc bên cốc nước đường.
Một việc trên những trang bản vẽ kỹ thuật.
Nhưng giữa chúng có cùng một cách đối xử với con người.
Chữ CHIA, vì thế, rộng hơn ta vẫn nghĩ.
Chia không chỉ là bẻ đôi một phần ăn.
Có khi là dành cho một người khác phần thời gian của mình.
Phần kiên nhẫn.
Phần hiểu biết.
Phần công bằng.
Và đôi khi chỉ là dành trong cuộc đời mình một chỗ để người khác biết rằng họ có thể tìm đến.
KHI CÓ VIỆC, HAY CÓ TÂM SỰ, NGƯỜI TA TÌM ĐẾN ANH

Năm tháng lại đi.
Thầy Tuấn rời Trường Cơ Điện.
Đi qua những vị trí quản lý.
Đi qua những công việc lớn hơn một buổi hỏi đồ án, lớn hơn một nửa cân đường.
Rồi cuối cùng cũng đến ngày nghỉ hưu.
Nhưng có một điều không nghỉ hưu.
Đó là mối dây nối thầy với những người Cơ Điện.
Thầy Nguyễn Văn An – cựu sinh viên K11M, nguyên giảng viên Bộ môn Chi tiết máy, sau này từng đảm nhiệm cương vị Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, rồi Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng – nhớ về thầy Tuấn:
“Thầy Hoàng Ngọc Tuấn là người rất gần gũi anh em và luôn được anh em giảng viên, sinh viên kính trọng. Các cựu giảng viên, cựu sinh viên Cơ Điện ở Hải Phòng luôn coi anh là thủ lĩnh. Khi có công việc, hay tâm sự gì thường tìm đến anh.”
Trong câu nói ấy có một chữ rất đáng nghĩ.
Không phải “thủ lĩnh”.
Mà là:
“tìm đến.”
Một người từng giữ chức vụ cao có thể khiến người khác tìm đến vì công việc.
Một người giỏi chuyên môn có thể khiến người khác tìm đến để hỏi một điều chưa biết.
Nhưng khi người ta có tâm sự mà cũng tìm đến –
thì đó là một thứ khác.
Đó là niềm tin.
Niềm tin rằng người này sẽ nghe.
Sẽ hiểu.
Và sẽ không quay đi.
Niềm tin ấy không được tạo nên bởi chức danh.
Nó được góp nhặt rất chậm –
qua cách một con người đã sống với những người khác.
NGÀY HÔM SAU KHI NGHỈ HƯU

Năm 2006, thầy Hoàng Ngọc Tuấn nghỉ hưu.
Theo cách thông thường, đó là ngày một người được phép khép lại phần công việc của mình.
Nhưng với thầy Tuấn, có một chi tiết thật lạ.
Ngay ngày hôm sau, thầy lại đi làm việc.
Không còn chiếc ghế nào buộc thầy phải đến.
Không còn chức vụ nào yêu cầu thầy phải có mặt.
Không còn một bản mô tả công việc quy định những điều phải làm.
Nhưng vẫn còn những thứ người khác cần ở thầy.
Và trong gần hai mươi năm sau đó, thầy tiếp tục đem tri thức và kinh nghiệm của mình vào những công việc xã hội, khoa học và phát triển của Hải Phòng.
Thầy tham gia với tư cách chuyên gia cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu Kinh tế, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng.
Tư vấn chiến lược phát triển kinh tế.
Tham gia hội đồng khoa học.
Hội thảo.
Đánh giá đề tài nghiên cứu.
Trao đổi về những vấn đề phát triển của thành phố.
Có những lúc người ta vẫn thấy người thầy đã nghỉ hưu ấy xuất hiện trên trường quay truyền hình Hải Phòng, nói về chiến lược và những con đường đi tới tương lai.
Một đời người, khi đến tuổi nghỉ hưu, thường bắt đầu thu lại.
Thầy Tuấn dường như vẫn tiếp tục mở ra.
KHI TRAO KHÔNG CÒN CHỈ CHO MỘT NGƯỜI

Nhưng điều đáng chú ý hơn cả không phải số hội đồng thầy đã tham gia.
Mà là những thứ có thể tiếp tục sống sau một cuộc họp.
Thầy tham gia Hội phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Hải Phòng.
Trực tiếp viết một đề án đào tạo nhân tài.
Đề án được phê duyệt và đã được triển khai khoảng mười năm.
Mỗi năm một lớp.
Các chuyên gia giỏi về quản trị doanh nghiệp của Việt Nam và Nhật Bản trực tiếp giảng dạy.
Sau mười tháng học tập, học viên còn có thời gian sang Nhật Bản thực tập.
Từ một bản đề án, hết lớp này đến lớp khác được mở.
Hết người này đến người khác được học.
Thầy lại viết Đề án xây dựng lộ trình đổi mới cho doanh nghiệp.
Đề án được phê duyệt.
Đã đi khoảng bảy năm.
Mỗi năm hỗ trợ khoảng năm doanh nghiệp.
Và vẫn tiếp tục.
Đến đây, chữ CHIA đã thay đổi hình dạng.
Ngày trẻ, thầy chia cho những người đang đứng trước mặt mình.
Nửa cân đường cho mấy cô sinh viên đang đói.
Thời gian cho một sinh viên cần được đánh giá công bằng.
Một lời khuyên cho người Cơ Điện tìm đến.
Nhưng khi một đề án được xây dựng để hết lớp người này đến lớp người khác được đào tạo, khi một cơ chế được tạo ra để hết doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác được hỗ trợ –
người trao không còn cần biết mặt tất cả những người sẽ nhận.
Có lẽ đó là một tầng khác của truyền lửa.
Không chỉ đưa lửa sang một bàn tay.
Mà tạo ra một con đường để lửa còn đi tiếp.
PHẦN MÌNH CÓ MỖI LÚC MỘT KHÁC
Nhìn lại gần cả cuộc đời ấy, có một điều rất giản dị.
Phần mình có mỗi lúc một khác.
Tuổi trẻ, là nửa cân đường.
Khi đứng trên bục giảng, là kiến thức và thời gian.
Khi làm quản lý, là kinh nghiệm và khả năng tổ chức.
Khi nghỉ hưu, là tri thức tích lũy của cả một đời, uy tín của một con người và quỹ thời gian còn lại.
Nhưng dường như động tác không thay đổi:
mở phần ấy ra.
Mở cho người đang đói.
Mở cho học trò.
Mở cho đồng nghiệp.
Mở cho những người Cơ Điện tìm đến.
Mở cho những người trẻ mình chưa từng dạy.
Mở cho những doanh nghiệp mình có thể chẳng bao giờ bước chân vào.
Có những người suốt đời cố giữ phần mình có.
Có những người lại dường như không giữ được nhiều cho riêng mình –
bởi cứ tìm cách đem phần ấy ra dùng cho người khác.
MỘT KHOẢNG VƯỜN
Ngoài những chiến lược, hội đồng, đề án và công việc xã hội, thầy Hoàng Ngọc Tuấn còn có một niềm vui khác.
Hoa lan.
Thầy là một trong những thành viên sáng lập Câu lạc bộ Hoa Lan Hải Phòng.

Trong một bức ảnh tuổi già, không còn thấy một Trưởng Bộ môn.
Không thấy Giám đốc Sở.
Không có hội đồng khoa học.
Không có bục phát biểu.
Chỉ có một người đàn ông tóc đã bạc ngồi cùng bạn bè giữa một khoảng vườn xanh.
Có những giò lan.
Một bàn trà.
Và những người ngồi gần nhau.
Một đời người cuối cùng cũng cần những khoảng như vậy.
Sau bao nhiêu việc lớn, đôi khi hạnh phúc chỉ còn là nhìn một bông hoa nở và có vài người bạn ngồi bên.
Nhưng có lẽ ngay cả lúc ấy, với những người Cơ Điện ở Hải Phòng, ông vẫn là người mà:
“có công việc, hay tâm sự gì thường tìm đến.”
NỬA CÂN ĐƯỜNG ĐÃ HẾT TỪ RẤT LÂU
Nửa cân đường của mùa lũ năm ấy chắc đã hết ngay trong ngày. Những cốc nước đường đã uống xong, những nữ sinh K4M rồi trưởng thành, mùa lũ rút đi, mái trường đổi khác. Người thầy trẻ năm ấy cũng đã đi qua gần cả một đời người.
Nếu chỉ nhìn vào thứ hữu hình, nửa cân đường chẳng còn lại gì.
Nhưng câu chuyện vẫn còn, bởi thứ được trao ngày hôm ấy không chỉ là đường. Nó hé lộ một cách sống rất giản dị: có gì trong tay, khi người khác cần, thì mở ra.
Ngày trẻ, phần thầy có là nửa cân đường. Sau này, phần ấy thành kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và uy tín của một đời làm nghề. Thầy dùng chúng để dạy học, để lắng nghe, để kết nối, để mở thêm một con đường cho người khác. Đến khi nghỉ hưu, không còn chức vụ nào buộc mình phải làm, thầy vẫn đem những gì một đời đã tích lũy được ra góp cho những người trẻ, cho doanh nghiệp, cho thành phố nơi mình sống.
Phần mình có mỗi lúc một khác. Nhưng bàn tay mở ra thì vẫn thế.
Đến đây mới hiểu, thứ đi suốt cuộc đời thầy Hoàng Ngọc Tuấn chưa bao giờ là nửa cân đường. Nửa cân đường chỉ là một trong những lần rất sớm ta nhìn thấy động tác ấy: mở phần mình có ra cho một người khác.
Bởi những thứ có thể cân đếm rồi sẽ hết. Nửa cân đường sẽ hết. Một ba lô mì sẽ hết. Một bữa cơm rồi cũng hết.
Nhưng có những thứ càng trao lại càng ở lâu trong đời người – bởi đến một lúc nào đó, nó không còn nằm trong tay người đã cho nữa, mà bắt đầu sống trong người đã nhận.
Thời gian, sự công bằng, tri thức, niềm tin – và đôi khi chỉ là cảm giác rằng, lúc mình cần, có một người để tìm đến.
Hơn nửa thế kỷ trước, giữa một mùa lũ ở Trường Cơ Điện, một bàn tay đã mở ra. Trong bàn tay ấy khi đó chỉ có phần đường tiêu chuẩn ít ỏi của một người thầy trẻ.
Nửa cân đường đã hết từ rất lâu.
Nhưng bàn tay ấy vẫn chưa khép lại.
Nó tiếp tục mở ra bằng những điều khác: một buổi trưa dành để kiểm tra lại trước khi kết luận về học trò; những năm tháng đem tri thức và kinh nghiệm của mình góp cho người khác; một chỗ để anh em, bạn bè biết rằng khi có việc khó, hay chỉ có một chuyện trong lòng, họ vẫn có thể tìm đến.
Có lẽ lửa được truyền như thế.
Không bằng lời dặn người sau phải sống giống người trước. Cũng không bằng những điều lớn lao mà người trao cố ý để lại.
Chỉ bằng cách một người đã sống trước mặt một người khác.
Để rồi rất lâu sau, có khi chính người từng nhận cũng không còn nhớ mình đã học điều ấy từ bao giờ. Chỉ biết rằng một ngày, trước mặt mình có một người đang cần, và trong tay mình đang có một phần có thể trao.
Bàn tay lại mở ra.
Nửa cân đường đã hết.
Nhưng từ một bàn tay mở ra hơn nửa thế kỷ trước, có thể một bàn tay khác lại học được cách mở ra.
Có những thứ, càng chia càng còn lại.
VỀ NGUỒN TƯ LIỆU
Bài viết được hình thành từ các tư liệu hồi ức về Trường Đại học Cơ Điện; lời kể của thầy Hoàng Ngọc Tuấn; cùng lời kể của các cựu sinh viên Liều Mai Sâm (K15I), Kỳ Thiết Bảo (K11I) trong phim tư liệu “Tình người Cơ Điện”; lời kể của thầy Nguyễn Văn An và một cựu sinh viên K16M từng bảo vệ đồ án Chi tiết máy trước thầy.
GHI CHÚ VỀ NHÂN VẬT
Một số thầy giáo và cựu sinh viên được nhắc đến trong bài:
TS. Hoàng Ngọc Tuấn – Nguyên Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải phòng, nguyên giảng viên trường Đại học Cơ Điện.
Thầy Nguyễn Văn An – cựu sinh viên K11M, nguyên giảng viên Bộ môn Chi tiết máy, sau này từng đảm nhiệm cương vị Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, rồi Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng.
PGS. TS. Trịnh Quang Vinh- Nguyên Trưởng Ban khoa học Công nghệ Đại học Thái Nguyên, nguyên Giảng viên Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy trường ĐH Cơ Điện
Ông Liều Mai Sâm – Kỹ sư trưởng Liên doanh Dầu khí Việt – Nga (Vietsopetro), Vũng Tàu, Cựu sinh viên K15I – trường Đại học Cơ Điện.
Ông Kỳ Thiết Bảo – Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất thiết bị dịch vụ Thiết Bảo, Cựu sinh viên K11I, trường Đại học Cơ Điện


